Home T́m Ca Dao Trang Chủ Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
Cảm Nghĩ
 
Ẩm Thực
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Trang Chủ
 

 
 

 

 
 

Vợ Khôn Lấy Chồng Dại

Con vợ khôn lấy thằng chồng dại như bông hoa lài cấm băi cứt trâu

Xưa, có một người đàn bà làm nghề dệt vải. Nàng bản tính thông minh tháo vát, nhưng lấy phải người chồng đần độn không làm được nghề ǵ nên thân. Một hôm, vợ đưa cho chồng mấy tấm vải bảo mang ra chợ bán. Vợ dặn: - "Nếu không được bốn quan mỗi tấm th́ đừng có bán, nghe!"

Chồng mang vải ra chợ đi khắp nơi, rao khản cả cổ mà chả có ai mua cả. Măi về sau có một ông cụ già mua cho hai tấm. Nhưng ông ta lại không mang tiền theo. Ông cụ bảo hắn:

- Chốc nữa anh đến nhà tôi lấy tiền nhé! Nhà tôi cũng ở trong xă này thôi.

Hắn hỏi:

- Nhà ông ở đâu?

- Tôi ở chỗ: "chợ đông không ai bán, chỗ kèn thổi ṭ le, chỗ cây tre một mắt". Đến đó tôi sẽ trả tiền ngay.

Đến chiều hắn đi t́m người mua hang chịu của hắn. Gặp ai hắn cũng hỏi thăm "chỗ chợ đông không ai bán, chỗ kèn thổi ṭ le, chỗ cây tre một mắt" là ở đâu, nhưng chẳng một ai biết thế nào mà trả lời. Người ta chỉ nói với hắn:

- Thôi rồi, anh mắc phải tay bịp bợm nào đấy thôi!

Hắn đi loanh quanh măi đến tối mịt không t́m được nhà, đành phải trở về ôm mặt hu hu khóc.

Vợ hắn hỏi tại sao th́ hắn kể cho vợ nghe tất cả câu chuyện. Người vợ bảo:

- Cũng dễ t́m thôi! "Chỗ chợ đông không ai bán" là cái nhà trường, "chỗ kèn thổi ṭ le" là bụi lau v́ khi gió thổi nghe như tiếng kèn sáo, "chỗ cây tre một mắt" là bụi hành hay tỏi ǵ đó. Vậy anh phải kiếm người đó ở một cái trường học, gần đó có bụi lau, trước cửa có vườn trồng hành tỏi.

Qua ngày sau, anh chồng lại cất bước đi t́m. Quả đúng như lời người vợ nói, hắn gặp ông lăo hôm qua. Đó là một thầy đồ dạy học tṛ. Thấy hắn đến, ông đồ liền hỏi xem nhờ ai mách cho mà biết được chỗ ở của ḿnh. Hắn đáp: - "Tôi t́m ông suốt cả một buổi chiều hôm qua. May nhờ có vợ tôi mách cho đấy". Ông thầy nghĩ: -"Người đàn bà này hẳn là một cô gái thông minh tài trí, ít người sánh kịp". Hôm đó nhân nhà có giỗ, ông đồ mời hắn ngồi lại ăn cỗ. Hắn ta cắm đầu chén một bữa no nê lại được ông đồ gửi phần về biếu vợ. Nhưng khi trả tiền, ông đồ c̣n gửi hắn một gói khác bảo đưa cho vợ. Trong đó chỉ có một cục phân trâu ở giữa có cắm một cánh hoa nhài. Hắn ta chẳng hiểu ǵ cả cứ việc cầm lấy về nhà.

Người vợ trông thấy, hiểu ư ông thầy muốn mỉa mai ḿnh:

Con vợ khôn lấy thằng chồng dại

Như bông hoa lài cắm băi cứt trâu

Càng ngẫm nghĩ về "gói quà", nàng càng buồn bực, trách chồng dốt nát để mang về cho ḿnh một lời trêu chọc chua cay, rồi nghĩ tới duyên phận hẩm hiu, nước mắt nàng lă chă. Nàng vứt cái thoi, bụng bảo dạ: - "Thân thế ta thật chả ra ǵ. Trên đời có bao nhiêu người khôn ngoan tài giỏi, c̣n ta th́ lấy nhầm phải một thằng chồng u mê đần độn!". Trong một cơn phiền muộn, nàng chạy ra bờ sông, toan nhảy xuống ḍng nước trẫm ḿnh cho rồi một đời.

Lại nói chuyện ông thầy dạy học, sau khi tiễn chân anh chàng bán vải ra khỏi cửa, nghĩ đi nghĩ lại thấy sự trêu chọc ác nghiệt của ḿnh thật là không phải. Ông đâm ra lo câu chuyện đưa tới một kết quả không hay: - "Không biết chừng người đàn bà ấy phẫn chí liều thân hoại thể th́ ta sẽ có tội rất lớn với danh giáo". Nghĩ thế, ông đồ bèn đi mượn một cái giỏ đựng cá thủng trôn, rồi mang ra bờ sông cùng với chiếc cần câu làm bộ câu cá. Ông cứ men theo dọc bờ sông gần làng, đi lại trông chừng. Khi thấy một người đàn bà ngồi trên bờ vắng đang ôm mặt khóc thút thít, ông biết ư vội tiến đến gần, có ư ch́a giỏ cho nàng thấy và nói:

- Chị này ngồi tránh đi chỗ khác cho tôi câu cá nào.

Người đàn bà đó đúng là vợ anh chàng bán vải. Nàng ngước mắt trông lên thấy có một người đàn ông đầu đă hai thứ tóc mà lại mang chiếc giỏ rách đi câu. Nàng tự nghĩ: - "Người nào đây ngu quá là ngu. Chồng ḿnh tuy khờ dại nhưng cũng chưa đến nỗi này". Rồi nàng kết luận: - "Vậy ra chồng ḿnh vẫn c̣n có những chỗ hơn người". Nghĩ vậy, nàng bỏ ư định tự tử mà trở về nhà[1].

KHẢO DỊ

Truyện này cùng một cốt truyện với truyện Anh chồng ngốc ở miền Bắc, tuy mỗi bên có một số h́nh tượng khác nhau:

Ở Bắc-ninh có cô gái thông minh lấy phải anh chồng đần độn con một phú ông.

"Tiếc thay hạt gạo tám xoan; Thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà"

Một hôm vợ bảo chồng đi chợ bán con chó nhà. Vợ dặn: - "Quan tám tiền ngay, quan tư tiền chịu". Khi nghe hắn đ̣i như vậy, ai cũng cho là ngốc: mua tiền mặt lại đắt hơn mua chịu. Một cụ đồ nghe hắn đ̣i, nghĩ bụng: - "Ư muốn của người bán chó là bán chịu để có dịp đi đ̣i tiền mà thăm con chó của ḿnh, như vậy là người có nghĩa". Bèn mua chịu. Nhưng địa chỉ của cụ đồ là: "T́m đến một làng đầu làng có "hữu thủy vô ngư, hữu ngư vô thủy", vào một nhà có "hữu kim vô chỉ, hữu chỉ vô kim". Cũng như truyện trên, khi đi đ̣i tiền người mua chịu, hắn không biết đàng nào mà t́m, đành về khóc với vợ. Vợ giúp hắn đi t́m, bảo đến làng nào đầu làng có giếng (hữu thủy vô ngư), lại có điếm canh có mơ cá (hữu ngư vô thủy); rồi t́m đến nhà nào có rào găng (hữu kim vô chỉ), có dây tơ hồng (hữu chỉ vô kim).

Ở đây cũng có câu chuyện cụ đồ mời ăn cơm và gửi quà về biếu vợ nhưng quà tặng là một gói cơm nắm gạo tám xoan, giữa có nhét mấy quả cà ủng. Vợ hắn nhận gói cơm biết ư nghĩa kín đáo: - "Tiếc thay hạt gạo tám xoan; Thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà". Khác với truyện trước, người đàn bà này không có ư định trẫm ḿnh mà chỉ định bỏ nhà ra đi. Khi đến sông th́ đă có ai cất mất ván cầu, gần đó thấy có một cụ đồ đang lội b́ bơm, hỏi th́ cụ trả lời là đi t́m một cái kim: "Cái kim là vật bao nhiêu mà cụ mất công như vậy?". - "Nhưng nó là vật kỷ niệm của vợ tôi; cần phải có thủy có chung chứ". Cô gái thông minh suy nghĩ lại, bỏ ư định trên[2].

Người Nùng có truyện Chàng ngốc đi học kết hợp một phần truyện Cuộc phiêu lưu của chàng Ngốc (số 190, tập V) với một số t́nh tiết của hai truyện trên:

Hoa em đẹp cắm băi phân trâu, không người săn sóc héo đi không

Ngốc mồ côi bố, xách túi bạc đi t́m thầy để học. Theo hai ông thầy thuốc rong chuyên làm cái việc đánh cồng "phèng phèng"; sau ba năm chỉ nhớ có môn thuốc chữa mắt. Trở về chữa lành cho con gái phú ông đau mắt đă ba năm, được phú ông gả cho làm vợ. Từ đó cứ nằm dài ở nhà. Vợ giục đi buôn, trước hăy "buôn đầu chợ, ăn cuối chợ". Hắn ta mua bánh ở đầu chợ ra khỏi chợ th́ ăn hết, rồi về. Lần sau, vợ bảo đi bán vải. Hắn hỏi: - "Bán ở đâu?". - "Chỗ nào đông người th́ bán". Thấy nhà trường đông người hắn đặt gánh chào nhưng chả ai hỏi cả. Sau ba tiếng trống học tṛ vào học, hắn thấy vắng lại quảy hàng về. Vợ nghe kể bực ḿnh, một hôm trao cho chồng thoi vàng bảo đổi bạc bảo chuẩn bị đi buôn chuyến khác. Thấy ngỗng phủ nhau giữa sông, hắn thương con vật bị ch́m bèn thuận tay cầm thoi vàng ném. Mất vàng nhưng về lại khoe với vợ là đă cứu được con ngỗng. Vợ thân thân trách phận lấy phải chồng ngu đần bèn bỏ đi. Thấy hai chàng trai cắm một bông hoa "coi" trắng trên một băi phân trâu, nàng biết là họ mỉa ḿnh. V́ có câu hát "Bióoc noong đây lại chắp khỉ vài, Mi cần sau chỉnh vải pây đai" (Hoa em đẹp cắm băi phân trâu, không người săn sóc héo đi không). Càng thêm tủi phận, nàng toan tự vẫn, đến bến gặp một người đang múc nước sông lên để sàng - "Sàng nước để làm ǵ vậy?". Nàng hỏi. - "Để t́m cái kim khâu". Nàng nghĩ bụng - "Vậy ra trong thiên hạ c̣n có kẻ ngu hơn chồng ta".

Bèn trở về cố công dạy chồng học. Cuối cùng chồng đỗ trạng[3].

Đồng bào Cham-pa có truyện Trạng

"Cổng làng có một giếng thơi. Một người có chửa đứng chơi trước làng. Nhà th́ giữa đám mây xanh. Trên từng mây trắng, xung quanh sao vàng"

Đồng bào Cham-pa có truyện Trạng, trong đó có một đoạn nói Trạng đi t́m một người vợ lư tưởng mà măi chưa gặp được người nào vừa ư. Một hôm đến bờ một con sông, muốn sang mà không thấy có đ̣, cũng không thấy bến. Trong khi chưa biết hỏi ai, bỗng gặp một cô gái ở bên kia bờ. Trạng cất tiếng hỏi th́ cô gái đáp: -"Hỏi người đi cùng th́ rơ". Trạng thấy người cùng đi với ḿnh không có ai khác hơn ngoài một cái rựa cán dài mà ḿnh cầm tay, mới hiểu ra là dùng rựa ḍ đường sẽ lội được. Biết cô gái khôn ngoan, qua sông, Trạng hỏi nhà để ghé chơi. Cô gái chỉ nói mấy câu: - "Cổng làng có một giếng thơi. Một người có chửa đứng chơi trước làng. Nhà th́ giữa đám mây xanh. Trên từng mây trắng, xung quanh sao vàng". Trạng không hiểu ra sao, bèn đi theo cô gái. Cô gái nói: - "Tôi đang đi". Trạng hiểu ra là muốn đến nhà cô gái th́ phải đi ngược đường. Trạng t́m đến một làng trước cổng có giếng nước, hai bên bờ giếng có cây chuối sắp trổ hoa. Trạng lại t́m vào một ngôi nhà xung quanh có giàn mướp hoa vàng, trên mái nhà là dây bầu hoa trắng, biết là nhà cô gái[4]. (Xem thêm Khảo dị, truyện Em bé thông minh, số 80).

Người In-đô-nê-xi-a (Indonesia) có truyện Người chồng tội phạm, đoạn đầu có cùng mô-típ với các truyện trên:

Ở Xu-ma-tơ-ra (Sumatra) có 4 cô gái xinh xắn thông minh hẹn nhau nếu không gặp được người thông minh th́ không lấy làm chồng. Gặp một chàng trai, họ mời đến chơi nhà. - "Nhà các cô ở đâu?". Chàng trai hỏi. Cô thứ nhất trỏ vào tóc, cô thứ hai trỏ vào lông mày, cô thứ ba trỏ vào hai vú, cô thứ tư lấy tay đập nhẹ vào váy. Nói đoạn mỗi cô đi một ngả. Anh chàng không làm sao hiểu được. Đang suy nghĩ bỗng gặp một người có tội bị trói phơi nắng, lưng c̣m, máu me đầm đ́a. Sau khi xin nước giải khát, người bị trói hỏi: - "Trông anh có việc ǵ bận tâm th́ phải?" Anh kia kể lại mấy câu đố của bốn cô gái. Người ấy nói: - "Khó ǵ. Nhà cô thứ nhất kéo sợi, nhà cô thứ hai có hàng rào trúc, nhà cô thứ ba trước cửa có cây thanh yên có hai quả, nhà cô thứ tư có khung dệt vải". Anh kia t́m đến quả đúng. Bốn cô hỏi ai bày cho, anh nói thật. - "Thế th́, anh không phải người chúng tôi mong đợi". Anh kia thẹn bỏ đi.

Đoạn sau truyện phát triển gần giống với truyện Người ăn trộm và bốn cô gái của người Khơ-me (Khmer). (Xem Khảo dị, truyện số 107, tập III). Ở đây bốn cô góp tiền lên quan chuộc tội cho anh bị trói về. Sau đó cô thứ nhất vào rừng t́m thuốc, cô thứ hai t́m kiến thức ăn ngon, cô thứ ba trổ tài nấu nướng, cô thứ tư lau rửa vết thương. Lành mạnh rồi, các cô hỏi anh v́ sao bị tội. Anh đáp: - "Bạn tôi có bố mẹ già, con dại, trót đi ăn trộm để lấy tiền về nuôi. Tôi phải nhận tội thay để cứu anh ấy và gia đ́nh". - "Sao lại chơi bời với người xấu?". - "Không phải xấu đâu. Ít hôm nữa việc xong, anh ấy sẽ đến chịu tội thay".

Bốn cô thấy anh vừa có tài lại có đức, bèn ngỏ lời xin anh chọn một người làm vợ. - "Biết chọn ai bây giờ?", anh đáp. Trong khi bốn cô tranh công nhau th́ người bạn quư đến chịu tội thay. Bốn cô nhờ người này phân xử hộ. Hắn đáp: - "Cô t́m thuốc có t́nh cảm của một người bố, cô t́m thức ăn có t́nh cảm của một người chị, cô nấu nướng là mẹ, cô chăm nom săn sóc th́ mới đúng là t́nh cảm của người vợ đối với chồng". Bốn cô chịu là phải[5].

C̣n nhiều truyện khác nói về những nhân vật thông minh, có thể giải mă những dấu hiệu hoặc những câu nói mang ư nghĩa như là một câu đố, gần giống với nội dung của những truyện trên. Ví dụ truyện của Ả-rập (Arabie):

Một người trẻ tuổi thông minh, có ư định đi t́m một người đàn bà thông minh để lấy làm vợ. Dọc đường gặp một ông lăo làm bạn đường. Đang đi anh hỏi: - "Ông mang tôi hay tôi mang ông?". Đáp: - "Hỏi ǵ lạ vậy? Tôi cưỡi ngựa c̣n anh cũng vậy, c̣n mang cái ǵ". Người kia không nói ǵ. Đến một đồng lúa tốt, anh hỏi: -"Mùa này có thể được ăn hay không?". Đáp: -"Ngốc thật. Sắp gặt mà c̣n hỏi". Lại đi nữa, thấy một đám ma anh hỏi: -"Người nằm trên đó chết hay không chết?". -"Chẳng ai dớ dẩn như chú." Tuy vậy đến chỗ chia tay, lăo cũng mời anh về nhà nghỉ. Con gái lăo hỏi bố về người khách, lăo đáp: - "Ồ, đó là một thứ dở hơi, hỏi những câu ngây ngô, chả ra làm sao cả". Rồi kể lại cho con nghe. Nghe xong, cô gái nói: - "Chả phải dở hơi đâu bố ạ! Về câu hỏi thứ nhất có nghĩa là: ông kể cho tôi hay tôi kể cho ông nghe một câu chuyện để đường bớt dài. Về câu thứ hai nghĩa là chủ ruộng đă "bán non" lúa và đă ăn mất số tiền ấy chưa? Về câu thứ ba nghĩa là người chết ấy có được kẻ hậu sinh nhắc đến trong kư ức hay không. Lăo bèn chạy ra giảng cho khách biết. Chàng trẻ tuổi hỏi: -"Đây không phải ông nghĩ ra, vậy th́ ai bày cho ông?". -"Một cô gái". Cuối cùng anh chàng kết duyên với con gái lăo[6].

[1] Theo Lăng-đờ (Landes). Sách đă dẫn.

[2] Truyện cổ dân gian Việt-nam, tập II

[3] Theo Hoàng Quyết. Truyện cổ Tày Nùng.

[4] Truyện cổ dân gian Việt-nam, tập I. Theo chúng tôi có lẽ không nên dịch mấy câu đối đáp thành thơ lục bát làm mất đi sắc thái riêng của ngôn ngữ Cham-pa.

[5] Theo Đinh Tú. Truyện cổ tích Nam -dương.

[6] Theo Bát-xê (Basset). Ngh́n lẻ một truyện cổ tích, truyện kể và truyền thuyết - rập, quyển II.

 

Post ngày: 10/20/17 

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Hỗ Trợ Kỹ Thuật

Hoàng Vân, Julia Nguyễn

Web Database

Nguyễn Hoàng Dũng
Xin vui ḷng liên lạc với  haphuonghoai@gmail.com về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 10/20/17