Home T́m Ca Dao Diễn Đàn T́m Dân Ca Phổ Nhạc T́m Câu Đố T́m Chợ Quê Góp Ư Nghe Nhạc English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
 
Ẩm Thực
Cảm Nghĩ
Chợ Quê
Chữ Nôm
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Liên Mạng Thành Viên
Trang Chủ
Hồng Vũ Lan Nhi 1 & 2
Phong Thủy HKH
 

 
Giới thiệu vài nét về cuốn sách „ Ca Dao- Con Đường Văn Hóa Việt „

Tác giả: Nguyễn Văn Nhiệm
     
 
Sách dày 557 trang gồm phần dẫn nhập và 14 chương.
Phần dẫn nhập gồm hai tiểu đề mục: Minh triết và quan điểm.

Một tài liệu dày công nghiên cứu. E-Cadao trang trọng giới thiệu cùng độc giả (xem chi tiết tại:)     

 

NHỮNG TR̉ CHƠI DÂN GIAN

Nhún đu (Đánh đu)

Trong các ngày hội, các làng thôn thường trồng một vài cây đu ở giữa thửa ruộng gần đ́nh để trai gái lên đu với nhau.

Cây đu được trồng bởi bốn, sáu hay tám cây tre dài vững chắc để chịu đựng được sức nặng của hai người cùng với lực đẩy quán tính. Hai cây tre làm cần đu nhỏ vừa tay cầm.

Lên đu có thể là một hay hai người. Càng nhún mạnh, đu càng lên cao, cần đu đưa lên vun vút, bên nọ sang bên kia. Cần đu lên ngang với ngọn đu là hay nhất, nhiều khi đu bay ngang ngọn đu một ṿng. Nhiều nơi treo giải thưởng ở ngang ngọn đu để người đu giật giải.

Nhún đu cũng là một sinh hoạt giao đăi t́nh cảm của trai gái.

Kéo co

Tục kéo co ở mỗi nơi có những lối chơi khác nhau, nhưng bao giờ số người chơi cũng chia làm hai phe, mỗi phe cùng dùng sức mạnh để kéo cho được bên kia ngă về phía ḿnh. Có khi cả hai bên đều là nam, có khi bên nam, bên nữ. Trong trường hợp bên nam bên nữ, dân làng thường chọn những trai gái chưa vợ chưa chồng.

Một cột trụ để ở giữa sân chơi, có dây thừng buộc dài hay dây song, dây tre hoặc cây tre, thường dài khoảng 20m căng đều ra hai phía, hai bên xúm nhau nắm lấy dây thừng để kéo. Một vị chức sắc hay bô lăo cầm trịch ra hiệu lệnh. Hai bên ra sức kéo, sao cho cột trụ kéo về bên ḿnh là thắng. Bên ngoài dân làng cổ vũ hai bên bằng tiếng "dô ta", "cố lên".

Có nơi người ta lấy tay người, sức người trực tiếp kéo co. Hai người đứng đầu hai bên nắm lấy tay nhau, c̣n các người sau ôm bụng người trước mà kéo. Đang giữa cuộc, một người bên nào bị đứt dây là thua bên kia. Kéo co cũng kéo ba keo, bên nào thắng liền ba keo là bên ấy được.

Đánh roi múa mộc

Roi bằng tre vót nhẵn và dẻo, đầu bịt vải đỏ, c̣n mộc đan bằng tre sơn đỏ. Các đấu thủ đấu tay đôi với nhau: vừa dùng roi để đánh, dùng mộc để đỡ, ai đánh trúng địch thủ vào chỗ hiểm và đánh trúng nhiều th́ thắng, thường đánh trúng vào vai và sườn mới được nhiều điểm.

Các hội lễ ở miền Bắc thường được tổ chức thi đấu vào những ngày đầu tháng giêng.

Ném cầu (Đá Cầu)

Xă Phú Sơn, Hà Tĩnh cử hành hội mùa xuân tại chùa xă ngày 14 và ngày rằm tháng giêng. Khi trong chùa đang lễ Phật, ngoài sân trai chưa vợ, gái chưa chồng tụ họp nhau dự tṛ chơi ném cầu để "bói" hôn nhân. Hai quả cầu dùng để ném vào lồng tre là hai quả chanh ngoài có lớp vỏ bện bằng mây bọc quanh: sơn màu xanh gọi là âm cầu và sơn màu đỏ trắng gọi là dương cầu. Trai và gái chia làm hai bên, mỗi bên có người cầm đầu. Hai bên hẹn ước với nhau rằng: "Trong hai nhóm chúng ta, hễ ai đă kết hôn mà ném được quả cầu vào trong lồng th́ chỉ được  thưởng; c̣n cặp nào chưa kết hôn mà ném trúng th́ không những được thưởng mà c̣n hẹn sẽ cưới nhau. Nếu ai sai lời sẽ có Phật trời chứng giám". Giao hẹn xong, mấy cặp bắt đầu tṛ chơi. Trước khi ném cầu, trai gai lần lượt hát:

Cầu này là cầu thiên duyên
Đôi ta mà trúng, kết nguyền cùng nhau

Tṛ vui kéo dài từ sáng đến chiều. Tuy là tṛ chơi nhưng mỗi lần một cặp trai gái có t́nh ư mà cùng ném trúng đều hứa hôn với nhau

Tập tầm vông

Bài đồng dao này phổ biến khắp Bắc, Trung, Nam nhại theo âm trống tầm vông / tâm vinh (gọi theo Nghệ An) tức trống cơm:

Tập tầm vông
Chị có chồng
Em ở vá
Chị ăn cá,
Em mút xương.

........................

Chị ăn kẹo,
Em ăn cốm
Chị ở Ḷ Gốm,
Em ở Bến Thành.
Chị trồng hành,
Em trồng hẹ.
Chi nuôi mẹ
Em nuôi cha

Cách chơi hiện nay của tṛ này là hai nguời chơi ngồi đối mặt nhau, vừa hát vừa theo nhịp đập ḷng bàn tay vào nhau: hoặc đập thẳng, hoặc đập chéo, hoặc một cao một hạ thấp, hoặc kết hoẹp nhiều cách khác nhau. Nói chung, cách chơi rất giống tṛ Th́a la th́a lảy đây.

Nu na nu nống

Nu na nu nống
Cái cóng nằm trong
Cái ong nằm ngoài
Củ khoai chấm mật
Bụt ngồi bụt khóc

Con cóc nhảy ra
Ông già ú ụ
Bà mụ thổi xôi
Nhà tôi nấu chè
Tè he chân rụt

Đám trẻ ngồi thành hàng ngang, duỗi hai chân ra trước. Một đứa ngồi đối diện, lấy tay đập vào từng bàn chan theo nhịp từng từ một của bài hát trên. Dứt bài, từ "rụt" đúng vào chân em nào th́ phải rụt nhanh. Nếu bị tay của cái đập vào chân th́ em đó thua cuộc: ra làm cái ván chơi kế tiếp, hoặc chịu h́nh phạt (nhảy ḷ c̣ một ṿng, trồng chuối...) hay phải đứng ra làm cái cho một tṛ chơi khác (bịt mắt bắt dê, ú t́m, cá sấu lên bờ...)

Tùm nụ, tùm nịu

Tùm nụ, tùm nịu
Tay tí, tay tiên
Đồng tiền, chiếc đũa
Hột lúa ba bông
ăn trộm, ăn cắp trứng gà
Bù xa, bù xít

Con rắn, con rít trên trời
Ai mời mày xuống?
Bỏ ruộng ai coi?
Bỏ voi ai giữ?
Bỏ chữ ai đọc
.................

Đánh trống nhà rông
Tay nào có?
Tay nào không?
Hổng ông th́ bà
Trái mít rụng
...................

Căn cứ vào hai câu "Tay nào có? Tay nào không?", đây là một tṛ đố: nắm một vật vào đó trong một tay và ch́a hai nắm tay. Mở tay ra: đúng sai, có không....biết liền

Thả đỉa ba ba

Tṛ chơi thể hiện việc qua sông, qua bưng, ruộng...ngập nước. ở dưới nước có đỉa. Cả nhóm làm sao xuống nước mà đỉa không bắt chước.
Trước hết vẽ hai đường song song cách nhau độ 2m (hay qui định khoảng trống nào đó) giả định là sông nước. Một em ra giữa ṿng vừa hát vừa lấy tay ra đập nhịp vào vai các bạn:

Thả đỉa / ba ba
Chớ bắt / đàn bà
Tha tội / đàn ông
Cơm trắng / gạo trắng
Gạo thuyền như nước

Đổ mắm / đổ muối
Đổ chuối / hạt tiêu
Đổ niêu / nước chè
Đổ phải nhà nào
Nhà ấy.... chịu

Từ "chịu" trúng em nào th́ em ấy xuống sông làm "đỉa". Bọn trẻ đứa chạy đầu này, đứa băng qua sông góc nọ. "Đỉa" rượt để bắt. Bọn trẻ lại hát bài hát ghẹo
Sang sông / về sông / trồng cây / ăn quả / nhả hạt. "Đỉa" rượt bên này th́ bên kia xuống sông. "Đỉa" quay lại bên kia th́ lũ bên nọ lại réo lên: "ăn quả / nhả hạt" rồi ào xuống. Chẳng may ai bị "đỉa" vớ phải th́ trở thành "đỉa".

Th́a la th́a lảy

Là tṛ chơi luyện tập sự nhịp nhàng. Giống như tṛ tập tầm vông, song bài ca lại là bài vè Con gái hư - chê tật xấu của các cô gái lười:

Th́a la th́a lảy,
Con gái bảy "tài"
Ngồi lê là một,
Dựa cột là hai.
Thày lay là ba

ăn quả là bốn
Trốn việc là năm
Hay nằm là sáu
Láu táu là bảy
...............

TR̉ CHƠI CON TRẺ

 

Đánh chuyền (Đánh Đũa):

Tṛ chơi của con gái. Số người chơi 2-5 người. Đồ chơi gồm có 10 que nhỏ và một quả tṛn nặng (quả cà). Cầm quả cà ở tay phải tung lên không trung và nhặt từng que. Lặp lại cho đến khi quả cà rơi xuống đất là mất lượt. Chơi từ bàn 1 (lấy một que một lần tung cà) bàn 2 (lấy hai que một lần) cho đến 10, vừa nhặt quả chuyền vừa hát những câu thơ phù hợp với từng bàn. Một mốt, một mai, con trai, con hến,… Đôi tôi, đôi chị… Ba lá đa, ba lá đề v.v. Hết bàn mười th́ chuyền bằng hai tay: chuyền một ṿng, hai ṿng hoặc ba ṿng và hát: “Đầu quạ, quá giang, sang sông, trồng cây, ăn quả, nhả hột…” khoảng 10 lần là hết một bàn chuyền, đi liền mấy ván sau và tính điểm được thua theo ván.

Đánh khăng (Đánh Căng):

Một tṛ chơi của trẻ nhỏ. Hai bên đứng đối diện nhau. Một người cầm hai đoạn tre, một ngắn một dài. Đào một hố nhỏ, dài dưới đất, đặt đoạn tre ngắn lên miệng hố, lấy thanh tre dài hất đoạn tre ngắn lên cao đánh thật mạnh văng ra xa. Nếu người đứng đối diện bắt được thanh tre, người đó sẽ được vào chơi thay.

Đánh quay (Chơi Vụ):

Tṛ chơi của trẻ nhỏ. Đồ chơi là con quay bằng gỗ hay sừng h́nh nón cụt, có chân bằng sắt. Dùng một sợi dây, quấn từ dưới lên trên rồi cầm một đầu dây thả thật mạnh cho quay tít. Con quay của ai quay lâu nhất, người đó được. Có thể dùng một con quay khác bổ vào con quay đang quay mà nó vẫn quay th́ người chủ của con quay đó được nhất.

 

Đánh Đáo

 

 

Nhong Nhong Cưỡi Ngựa "B́nh Kho"


(Kính tặng các ông đă từng làm mưa làm gió trong làng đáo)

Ai đă sống quăng đời từ sáu, bảy, đến mười hai, mười ba tuổi, trên dải đất Việt Nam, từ Bắc vào Nam, chắc đều biết vài ba kiểu đáo.

Đáo là tṛ chơi của con trai. Con gái th́ nhảy giây, đánh chuyền... C̣n ǵ vui nhộn cho bằng một sân trường trong giờ ra chơi. Dưới bóng mát của cây bàng, cây sấu hay cây phượng, cây me, chỗ này một nhóm đánh đáo, chỗ kia một đám đá cầu, bắn bị Reo ḥ cứ như là mổ ḅ... Giờ chơi bao giờ cũng quá ngắn ngủi. Lũ trẻ c̣n tiếc rẻ ván đáo dở dang, hẹn nhau hôm sau tiếp tục. Nếu hôm sau là chủ nhật th́ sao? " Eo ơi ! lâu thế th́ làm sao đợi được? ". Phải hẹn tới nhà nhau mà " đánh " tiếp chứ.

Trẻ con ham mê đánh đáo lắm... Chả cứ ǵ trẻ con, ngay cả người lớn cũng có nhiều người mê tơi v́ đáo ! "Đáo" là cái tṛ ǵ mà quyến rũ như vậy? Muốn biết là tṛ ǵ th́ ta chỉ việc lật ... Mà thôi hăy khoan ... Chuyện chữ nghĩa lát nữa hăy bàn...

Mời bạn đi xem đánh đáo kẻo muộn ((2).

Huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phú, hàng năm tổ chức chơi "đáo đá" vào ngày mồng 6 tháng giêng, để chọn người làm chủ tế ở đ́nh cho suốt năm. Những người được làng cử ra chơi phải hội đủ mấy điều kiện: trên 50 tuổi, đông con cháu, gia đ́nh đạo đức, không tang chế.

Tại sân đ́nh, người ta đào một cái hào. Đào xong, chính ông lí trưởng tự tay trồng hai cái cọc trong hào. Lúc chơi đáo, cứ hai cụ một ra chơi. Từ bờ hào, mỗi cụ được dùng sáu viên đá để ném vào cọc của ḿnh. Cụ nào ném trúng giữa thân cọc, chỗ có dán tờ giấy điều là thắng cuộc, sẽ được làm chủ tế.

Làng Lũng Ngoại, tỉnh Vĩnh Yên chơi "đáo hú", gần giống đáo đá. Người chơi vừa hú vừa ném viên đá sao cho trúng chân cọc. Mỗi người chỉ được ném một viên đá.

Làng Vọng Nguyệt, tỉnh Bắc Ninh có tục tổ chức đánh "đáo lỗ" tại sân đ́nh vào ngày mồng 4 tháng giêng.

Tại mỗi đầu sân người ta đào 4 lỗ đủ rộng và sâu để có thể ném một viên gạch vào. Làng chọn 8 người có chức sắc ra chơi đáo. Những người này mặc bộ quần áo tế, chia làm hai phe, mỗi phe 4 người. Một hồi chiêng trống nổi lên báo hiệu bắt đầu tṛ chơi. Mỗi người cầm một viên gạch nhắm ném vào lỗ của đối phương. Ai ném trúng, được vào ngồi chiếu cỗ của làng. Ném không trúng th́ phải lấy tà áo bọc viên gạch, đem đến bỏ vào lỗ. Bỏ rồi, đến trước bàn thờ thành hoàng làng khấn : "Con trót vụng về để thua ván đáo, vạn lạy ngài, xin ngài xá tội cho con".

Nổi tiếng và b́nh dân nhất có lẽ là "đáo đĩa" được tổ chức tại Bắc Ninh và Bắc Giang.

Người chơi đáo đứng ở vạch cấm, ném đồng tiền vào một chiếc đĩa đặt trong một cái mẹt. Nếu đồng tiền nằm trong đĩa th́ người chơi (nhà con) thắng giải. Văng ra mẹt th́ thua, người tổ chức (nhà cái) ăn đồng tiền ấy. Văng ra khỏi mẹt, rơi xuống đất th́ ḥa, người chơi được lấy lại đồng tiền.

Đáo đĩa khó hay dễ, tùy theo đĩa nhỏ hay lớn, vạch cấm xa hay gần. Giải thưởng có thể bằng tiền hay gói trà tàu, hoặc vuông nhiễu điều.

Có nơi thay đổi cách chơi, biến đáo đĩa thành "đáo ô". Chiếc đĩa được thay bằng chiếc khay kẻ ô. Mỗi ô được sơn màu trắng hay đen để phân biệt ô được, ô thua. Người chơi đứng ở vạch cấm ném đồng tiền vào khay. Tiền nằm trong khay th́ theo màu ô mà định được thua. Tiền văng ra ngoài khay th́ ḥa.

Đáo đĩa, đáo ô là hai tṛ chơi thường có ăn thua tiền bạc giữa nhà cái và nhà con. Nếu chỉ muốn mua vui, thử thời vận đầu năm, hay chỉ muốn khoe tài giữa bạn bè th́ chơi "đáo cọc" của làng Lũng Ngoại, tỉnh Vĩnh Yên.

Người ta trồng một cái cọc ở một mé sân đ́nh. Đầu cọc cắm cờ ngũ sắc, vừa đẹp vừa dễ thấy từ xa. Sáng mồng 3 Tết, ông tiên chỉ của làng làm lễ tại đ́nh, rồi ra ném viên đá đầu tiên, khai mạc cuộc chơi. Người chơi đáo đứng ở vạch cấm, ném những viên đá tṛn tới chân cọc. Viên đá của ai nằm gần chân cọc nhất th́ người đó thắng cuộc. Tṛ chơi càng hào hứng, vui nhộn mỗi khi có ai nhắm đánh văng bật viên đá của người khác ra xa chân cọc!

Chơi đáo tại hội làng là thú vui của người lớn, đúng hơn là của các ông. "Phép vua thua lệ làng". Lệ làng là như vậy ! Trẻ con chỉ được quyền chầu ŕa, vỗ tay. Nghĩ cũng tức thật ! Chẳng lẽ con cháu cứ đứng nh́n cha ông vui chơi? Bỗng một ngày nào đó, trong đám trẻ nảy ra một bộ óc thông minh đầy sáng tạo, dám nghĩ rằng " Lệ làng phải hàng ... luật trẻ". Bộ óc này đă cả gan cải tiến, đổi mới những kiểu chơi của người lớn thành những tṛ tiêu khiển hoàn toàn của trẻ con: đó là những lối đánh đáo ngoạn mục và hào hứng. Phổ biến nhất phải kể hai món "đáo lỗ " và "đáo tường ".

Đáo lỗ chơi chỗ nào cũng được, bao nhiêu người chơi cũng được, trừ ... chơi một ḿnh ! Chỉ cần khoét một cái lỗ dưới đất, to nhỏ, nông sâu tùy theo thỏa thuận giữa người chơi. Muốn dễ chơi th́ khoét lỗ to và sâu nằm giữa băi đất. Những tay lăo luyện th́ chỉ cần một lỗ vừa khít kích thước đồng cái, thường là đồng hai hào ngày xưa, xấp xỉ bằng đồng 1 euro (tiền của Cộng đồng Châu Âu). Để làm tăng thêm khó khăn, các bậc đàn anh thường chọn chỗ đất nghiêng, khoét lỗ gần một chướng ngại vật, cạnh một gốc cây, sát một mảnh chai chẳng hạn ! Cạnh lỗ kẻ một lằn mức. Cách lằn mức này độ hai, ba mét là vạch cấm. Đáo lỗ có nhiều luật lệ, tùy theo giao ước giữa người chơi.

Bắt đầu phải "đi cái" để định thứ tự chơi. Từ vạch cấm, ai thảy đồng cái gần lỗ nhất (trường hợp lí tưởng là ... bít kín lỗ), được chơi trước. Người chơi đứng ở vạch cấm thảy tiền đáo (tiền góp) lên quá lằn mức. Nếu có đồng nằm dưới lằn mức th́ bị thua hoặc bị phạt, phải góp thêm tiền. Đồng nào chạm hoặc rơi vào lỗ th́ người khác được quyền đặt lại vào bất cứ vị trí nào. Trường hợp có nhiều đồng chồng dính lên nhau, người khác được tùy ư xếp lại thành đống lớn. Nếu người chơi đánh tan hết đống tiền th́ thắng ván đáo, đánh tan một phần th́ chỉ được những đồng đánh tan này. Đây là lúc phải "bày binh bố trận " sao cho khéo, phải nghĩ ra những mẫu kiến trúc tân ḱ, đụng đến là văng tung toé, va chạm lung tung, người chơi sẽ bị phạt. Nếu không có tiền chồng dính nhau, th́ người khác được chỉ định bất cứ đồng nào, người chơi phải đánh trúng đồng đó. Đặc biệt là đồng nằm đụng lằn mức, đánh trúng nhưng vẫn c̣n phải nằm đụng lằn mức ! Lúc đánh, nếu chạm bất cứ đồng nào khác, ngoài những đồng được chỉ định, là bị phạt. Đánh văng xuống dưới lằn mức hoặc chạm vào lỗ cũng bị phạt !

Lúc bắt đầu một ván đáo, mỗi đứa góp vài ba hào. Sau vài lần phạt, số tiền cứ tăng dần. Thỉnh thoảng có ván lên đến mấy đồng, bàn tay trẻ con cầm không hết, cả bọn phải đồng ư lấy bớt để ra ngoài ! Bắt đầu hồi hộp, gay cấn rồi đấy !

Có những cú đánh "thần sầu quỷ khốc ", đáng được ghi vào sách vở ! Có những ván "bất phân thắng bại ", cuối cùng đành phải ḥa. Cao thủ gặp nhau mà lị !

Kẻ mới nhập môn làng đáo, c̣n e ngại đáo lỗ khó chơi, thường bắt đầu bằng "đáo điệu", c̣n gọi là "đáo thủ". Đáo điệu dễ hơn đáo lỗ ở chỗ ... không có lỗ. Chỉ có lằn mức và vạch cấm. Giản dị hơn nữa th́ chỉ khoét lỗ, không vạch lằn mức. Từ vạch cấm, thi nhau thảy đồng tiền vào lỗ. Tṛ chơi này có nơi cũng gọi là "đáo lỗ", có nơi chỉ gọi trống không là đáo để phân biệt với đáo lỗ có nhiều luật lệ kể ở trên.

Tại các thành phố lớn, vỉa hè được tráng xi măng, nhiều lúc không t́m ra khoanh đất để khoét lỗ, đành phải vẽ một ṿng tṛn con con thay vàọ Cách chơi tuy không thay đổi nhưng tṛ chơi đă giảm mất đôi phần thú vị. Thảy đồng cái vào lỗ là cả một tích lũy kinh nghiệm, kết quả của luyện tập lâu ngày. Đất mềm hay cứng, nhẵn hay mấp mô? tùy địa h́nh mà đưa ra lối chơi thích hợp. Thảy tiền trên nền xi măng th́ c̣n ǵ là hứng thú, hấp dẫn ! C̣n đâu cái khoảnh khắc hồi hộp nh́n đồng tiền lướt nhẹ trên mặt đất, từ từ bít kín lỗ đáo? Đứa khó tính bĩu môi "Chán bỏ xừ". Thế là cả bọn nhao nhao "Ử, chán bỏ xừ, chơi đáo tường thích hơn".

"Đáo tường ", c̣n gọi là "đáo đập ", chỉ cần một lằn mức. Lúc chơi đập đồng tiền vào tường cho văng ra. Đồng nào nằm gần lằn mức là hơn, vượt quá là thua. Đứa thứ nhất được lấy đồng của ḿnh chọi đồng của đứa thứ nh́. Chọi trúng th́ được ăn đồng ấy và được chọi tiếp đồng của đứa thứ ba...Nếu chọi không trúng đồng nào th́ đến lượt đứa có đồng ấy được chọi những đồng tiếp theo. Cứ lần lượt như vậy cho đến hết.

Đáo tường chơi mau chán v́ có ít luật lệ. Nếu chán th́ c̣n "đáo móc ", gần giống đáo tường, chỉ khác ở chỗ lúc đập đồng tiền vào tường, bắt buộc phải đập móc, nghĩa là phải vung tay theo chiều từ dưới lên trên. Đồng tiền văng theo đường cầu vồng trước khi chạm mặt đất.

Khó khăn lớn nhất của đáo tường, đáo móc là kiếm cho ra một bức tường để chơi mà không bị người lớn xua đuổi ! Nhiều khi không kiếm ra tường phải đập tạm vào cột, vào gốc câỵ "Cười gượng c̣n hơn mếu "!

Sau một buổi đáo sôi nổi, bức tường được trang điểm lấm tấm, đẹp như mặt rỗ hoa ! Bọn trẻ không hiểu nổi tại sao các bậc cha mẹ lại không ưa, không thích, thậm chí c̣n ghét hai món đáo này?

Thỉnh thoảng gặp cơn khó khăn, cả bọn trần như nhộng, không có đồng xu dính túi, hoặc bị mẹ cấm đánh bạc, chỉ c̣n nước rủ nhau giải trí lành mạnh, đánh đáo bằng một nắm xèng. Đồng xèng là cái nắp bia bằng sắt được đập cho thành h́nh tṛn bằng phẳng. Đồng cái là một mảnh ngói hay một miếng gạch con con.

Mấy đứa thua phải làm ngựa cơng đứa được, chạy nhong nhong quanh gốc cây, hay chạy rồng rắn lượn qua lượn lại một ṿng. Ngô Quư Sơn gọi con ngựa của trẻ con này là "ngựa B́nh Kho " (le cheval B́nh Kho)(2). Nhưng ông không cắt nghĩa, không nói tại sao lại gọi như vậy? Ngô Quư Sơn đă treo lủng lẳng một cái dấu hỏi trước mặt mọi người.

Đă từng một thời mê đánh đáo, khoái chí quất ngựa nhong nhong bù lại những lúc phải cong lưng chở nặng chạy loanh quanh, tôi cứ bứt rứt, muốn t́m cho ra con ngựa B́nh Kho này.

Tôi tự đặt câu hỏi :

B́nh Kho là tên người, tên một giống ngựa, hay tên một nơi nuôi ngựa nổi tiếng?

T́m kiếm trong mấy bộ sách sử kí, địa lí, phong tục đang có th́ không thấy tên B́nh Kho.

2) B́nh Kho là do đọc trại từ tên nào khác?

Tôi t́m được ba tên phát âm gần giống B́nh Kho :

- B́nh khấu, một chức quan đi dẹp quân làm loạn (Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quốc âm tự vị).

- B́nh khung, một loại giường (Nguyên Hồng, Sóng gầm).

- B́nh Khang, nơi nổi tiếng nuôi "ngựa người " của ... người lớn (Nguyễn Du, Kiều).

Trong ba tên, chỉ có "b́nh khấu " là tương đối sát nghĩa. "Ngựa b́nh khấu " có thể tạm hiểu là ngựa của ông quan có nhiệm vụ đi dẹp loạn. H́nh ảnh ông quan cưỡi ngựa, có lính đi hầu, rất thích hợp với tṛ chơi của trẻ con. Mặc dù thuở nhỏ chúng tôi chỉ biết con ngựa :

Nhong nhong ngựa ông đă về
Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn.


Thật là may ! Phải reo lên là thích quá, sướng quá, gần đây tôi đă t́m ra tông tích con ngựa B́nh Kho, trong bộ tranh dân gian Oger. Tấm tranh vẽ trẻ con làm ngựa chơi đùa. Tên tranh được viết là "Làm ngựa B́nh Vu" (hai chữ B́nh Vu tôi tạm đọc theo chữ hán).

Vậy B́nh Vu là ǵ?

a) Tên B́nh Vu cũng như B́nh Kho, không có trong sách.

b) Chữ B́nh có thể đọc ra tiếng nôm thành Bằng. Nếu vậy, phải trả lời câu hỏi: trẻ con làm ngựa bằng...ǵ? Chỉ có thể bằng vai, bằng tay, bằng lưng, hay bằng kiệu. Mấy chữ nôm vai, tay, lưng, kiệu viết hoàn toàn khác chữ vu trong tranh.

c) Chúng ta thử tra nghĩa của hai chữ b́nh vu.

- Chữ b́nh , nghĩa là bằng phẳng, yên ổn. Chữ b́nh có rất nhiều chữ đồng âm. Ngoài những chữ b́nh được ghi trong cả hai cuốn Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh (3) và Hán Việt tự điển của Thiều Chửu (4), cuốn Thiều Chửu c̣n có thêm một chữ b́nh mà cuốn Đào Duy Anh không có. Đó là chữ b́nh (bộ nhân) , nghĩa là sai khiến, bắt làm một việc ǵ.

- Chữ vu (cũng đọc là hu, Thiều Chửu), nghĩa là quanh cọ Chữ này có đánh dấu cá, báo hiệu là không được đọc theo tiếng hán.

B́nh vu đọc theo nghĩa, có thể là :

- Bằng phẳng, quanh co. Tên tranh trở thành " làm ngựa chạy quanh co trên một mặt phẳng" (sân, vỉa hè). Rất đúng với h́nh học không gian! Nhưng đặt trong bối cảnh bộ tranh dân gian, tả một tṛ chơi của trẻ con, tôi nghĩ rằng nghệ sĩ b́nh dân không giàu tưởng tượng, cầu ḱ đến mức đó!

- Sai khiến, quanh co. Tên tranh bây giờ có nghĩa là "làm ngựa (bị sai khiến) chạy quanh co". Đúng là con ngựa nhong nhong thân yêu của chúng tôị Đứa được bắt đứa thua cơng chạy một ṿng. Nhóc nào đă chơi đáo giải trí hẳn đều biết con ngựa này.

Theo tôi, chữ b́nh trong tranh viết thiếu bộ nhân, thiếu cả dấu cá để lưu ư người đọc!

Tại sao Ngô Quư Sơn lại đọc chữ vu thành chữ kho? Tôi phỏng đoán có thể Ngô Quư Sơn nhầm chữ vu của tranh với chữ vu nghĩa là khoai(bộ thảo), rồi đọc âm khoai thành kho.

Trở lại chuyện đáo.

Đáo có từ thời nào? Không ai trả lời đích xác được. Nhưng chắc chắn là đáo đă xuất hiện từ lâu, được chơi trong lễ hội cổ truyền của nhiều làng quê miền Bắc. Có giả thuyết cho rằng "đáo hú" của làng Lũng Ngoại được tổ chức để tưởng nhớ bà Lê Ngọc Trinh, một nữ tướng của Hai Bà Trưng, người đă bày ra tṛ chơi trong khi luyện tập binh sĩ (.

Tên đáo từ đâu mà ra? Rất có thể là từ chữ đáo của tiếng hán, nghĩa là đến, đến nơi đến chốn. Chơi đáo chính là ném một vật ǵ đến cái đích.

Định nghĩa của đáo là ǵ? Chúng ta lật tự điển :

- Đáo : cuộc chơi, đào lỗ dưới đất, đứng xa xa mà thảy vật ǵ nhằm lỗ (Huỳnh Tịnh Của) (5).

- Đáo : Jeu d'enfants consistant à lancer une sapèque contre un but (Gustave Hue) (6).

- Đáo : Tṛ chơi của trẻ em, ném đồng tiền hoặc vật tương tự vào một cái đích (Hoàng Phê) (7).

Định nghĩa của Hoàng Phê gần giống định nghĩa của Gustave Huẹ

Cả ba định nghĩa trên đều c̣n thiếu sót. Huỳnh Tịnh Của chỉ nói đến đáo lỗ. Gustave Hue và Hoàng Phê lại bỏ quên mất ... người lớn. Vâng, chính người lớn, các ông lớn ở làng, đă bày ra tṛ chơi đáo trước trẻ con.

Văn Tân (8) định nghĩa một cách tổng quát hơn :

- Đáo : Tṛ chơi quăng đồng tiền hay một vật ǵ vào một cái đích.

Non nửa thế kỷ rồi mà đôi lúc c̣n bùi ngùi mường tượng đến cái đám tí nhau, được người đời liệt vào hàng thứ ba, sau quỷ và ma ... Đứa c̣n đứa mất. Đứa lên ông, đứa xuống thằng. Phiêu bạt nơi đất Mỹ, trời Tây hay vẫn ngày ngày đi về mấy con đường năm xưa.

Gặp lại, chắc chắn mấy mái tóc hoa râm chẳng ai nhận ra ai. Nhưng nếu gợi lại những buổi trưa hè, đánh đáo vă mồ hôi, th́ có lẽ tất cả sẽ cười ồ lên, ôm chầm lấy nhau !

(- Phan Thanh Hiền và một nhóm :Tṛ chơi dân gian Việt Nam NXB TP Hồ Chí Minh, 1990.

(2)- Ngô Quư Sơn : Jeux d'enfants du Vietnam Sudestasie, Paris, 1985 (in lại).

(3)- Đào Duy Anh : Hán Việt từ điển NXB Trường Thi, Sài G̣n, 1957.

(4)- Thiều Chửu : Hán Việt tự điển NXB TP Hồ Chí Minh, 1993.

(5)- Huỳnh Tịnh Của : Đại Nam quốc âm tự vị NXB Rey, Saigon, 1895.

(6)- Gustave Hue : Tự điển Việt-Hoa-Pháp NXB Trung Ḥa, 1937.

(7)- Hoàng Phê và một nhóm : Từ điển tiếng Việt NXB Khoa học xă hội, Hà Nội, 1988.

(8)- Văn Tân và một nhóm : Từ điển tiếng Việt, NXB Khoa học xă hội, Hà Nội, 1977.

oOo
 

CỜ NGƯỜI

Cờ người là tên gọi cuộc chơi cờ tướng, gồm 32 quân (như cỗ bài tam cúc), mỗi phe 16 quân(trong mỗi phe có một Tướng. Tướng nam gọi là tướng Ông, trang phục đen hoặc xanh; tướng nữ c̣n gọi là tuớng Bà, trang phục đỏ). Chơi cờ tướng là chơi trên bàn cờ. Ba mươi hai quân cờ bằng gỗ, sừng, hay ngà tiện tṛn, đường kính 2cm, dày 1cm. Chơi cờ người cũng vẫn là luật lệ của cờ tướng. Nhưng quân cờ là người thật, và bàn cờ là sân đất rộng, đủ đường đinước bước cho 32 người.

choiga01.gif (14608 bytes)

choiga01.gif (14608 bytes)

Cuộc đấu cờ người thường được tổ chức trong các hội hè. Ở các hội làng, bàn cờ là sân đ́nh, sân chùa, hay băi ruộng khô phẳng gần nơi đ́nh chùa, tức là gần diễn chùa trường chính của hội. Cuộc đấu cờ người được chuẩn bị chu đáo hàng tháng trời. Định được bàn cờ -sân băi-chỉ mới là việc phụ. Đầu tiên là việc tuyển t́m người. Những người được chọn làm quân cờ phải là những trai thanh gái lịch, con cái của những gia đ́nh có nề nếp được dân làng quư trọng, đồng t́nh. Số lượng cần thiết là 16 nam,16 nữ. Trong số này phải chọn ra hai tướng: một nam, một nữ tướng Ông, tướng Bà. Ngoài ra, không thể thiếu người thứ 33 là tổng cờ (trọng tài) trực tiếp giúp ban giám khảo theo dơi cuộc đấu. Ba người này (tổng cờ và hai tướng) là thuộc loaị gia đ́nh khá giả, phong lưu, có thể "khao quân" khi cần thiết. Chọn xong, tổng cờ họp hai đội nam, nữ thông báo về trang phục, dặn ḍ về phong thái trong lúc làm nhiệm vụ "quân cờ". Quần áo mỗi người tự sắm, song phải thống nhất trong từng phe (quân đen, quân đỏ) khi ra sân băi, bàn cờ được tạo ra một màu sắc rực rỡ nhiều màu dưới trời hội xuân.

Mỗi "quân cờ" có ghế đẩu ngồi có thể có đội nón nếu trời nắng to. Trước ngực mỗi "quân cờ" có treo tên quân cờ bằng chữ hán. C̣n tướng, trang phục như h́nh vẽ, hoặc gần như thế, trong quân bài; đó là quân phục cấp tướng đời xưa, có lọng che. Hai đấu thủ có chỗ ngồi riêng...

Bên cạnh sự náo động của các tṛ chơi khác như đánh đu đầy tính chất hào hứng và lăng mạn; hay cuộc chọi gà "ăn thua"; hoặc cuộc đấu vật thiên về sức mạnh cơ bắp và dũng khí, th́ cái đẹp của sân cờ người là sự tinh tế, trầm tĩnh, có giá trị di dưỡng tinh thần, và như muốn tạo sự cân bằng đối với các cuộc đua tài ào ạt kia, đồng thời bổ xung và nâng cao giá trị văn hoá truyền thống của cá lễ hội qua nhiều thế kỷ lưu truyền.

This article comes from VN.NET
http://www.vn.net

Xem thêm

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Kỹ Thuật Truy Tầm

Hoàng Vân

Sưu tầm Nhạc Dân Ca

Julia Nguyễn
Xin vui ḷng liên lạc với  Trang Chủ về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 06/28/13