Home Tìm Ca Dao Trang Chủ Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
Cảm Nghĩ
 
Ẩm Thực
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Trang Chủ
 

 
 

 

 
   
Chơi Chong chóng, tranh Võ Đình, UNICEF 63
 
 
 
Trần thị LaiHồng
 
ĐỒNG   DAO và TRÒ  CHƠI  TRẺ  CON 

Tranh minh họa dân gian của Henry Oger Võ Đình

 

Đồng dao, đồng diêu: câu hát chơi, con nít hay hát.  Đó là định nghĩa đơn giản nhất của Huình Tịnh Paulus Của, trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, cuốn tự điển đầu tiên của Việt Nam, xuất bản năm 1895 tại Sàigòn.

 
36 năm sau, Ban Văn học Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo Việt Nam Tự Điển, Mặc Lâm xuất bản tại Hà Nội năm 1931 và Nhà In Imprimarie Trung Bắc Tân Văn phát hành, cũng định nghĩa ngắn gọn. Đồng dao:  câu hát trẻ con.  Hơn thế kỷ sau, tức là cả 103 năm sau, Đại Từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nhà xuất bản Văn hóa Thông tin phát hành năm 1998, định nghĩa đồng dao: lời hát truyền miệng của trẻ con, nhưng không đưa ra một câu nào. 

Đồng dao được truyền từ đời này tiếp đời nọ, vùng này qua vùng kia, có khi thay đổi, có khi sai lạc, có khi thất truyền, và bị quên lãng.  Tác giả hẩu hết vô danh, hay nói đúng hơn, chính dân gian là tác giả.

 

Dạy con từ thuở lên ba,  nhưng từ lúc lọt lòng mẹ qua ba tháng biết lẩy bẩy tháng biết bò cho đến khi lổm ngổm tập ngồi bi bô tập nói lựng chựng bước đi, với Việt Nam ta, tiếp nối lời mẹ ru, đồng dao giữ phần quan trọng trong giáo dục gia đình, chuẩn bị cho trẻ đến trường với khoa sư phạm áp dụng phương pháp giúp trẻ con vừa vui chơi giải trí vừa học hỏi, phát triển các khả năng cơ thể và mở mang trí tuệ.  Hát mà chơi.  Hát mà học.  Hát chơi mà học thật.

 

Thuở ban đầu, đồng dao chỉ được truyền miệng, nhưng nhờ ngắn gọn đơn giản ba, bốn hoặc năm chữ, có khi ngô nghê, nhưng vần điệu tiết tấu nhịp nhàng nên rất dễ hiểu dễ nhớ.  Về sau, rất nhiều bài đồng dao được đặt nhạc nên được phổ biến rộng rãi.  Trong hàng trăm bài đồng dao truyền miệng và hàng ngàn bản nhạc, chúng tôi chỉ nêu một số bài đồng dao truyền miệng từ Bắc qua Trung vào Nam, còn nhớ  hoặc tìm tòi sưu tầm được, và đồng dao được phổ nhạc, cùng một số nhạc phụ lục.  Chuyện bổ túc theo đà tiếp nối rất dễ dàng thuận tiện.

  

Chơi Diều, tranh Võ Đình, UNICEF 69 

Những trò chơi đầu tiên chỉ có mẹ và con.  Khi trẻ bớt ngủ ngày, tức vào khoảng một tháng sau khi ra đời, trẻ bắt đầu biết nghe và nhìn.  Bài học đầu tiên có thể chỉ tập cho con theo dõi, nhận xét, ghi nhận.  Mẹ chỉ cho con biết những phần trên cơ thể, cả danh từ lẫn động từ tĩnh từ:  mắt mở mắt nhắm, mắt đen mắt nâu, miệng nói môi cười, răng trắng, tai nghe, tóc đen tóc trắng, tóc ngắn tóc dài, tay nắm, chân đạp …

 

Trẻ chưa biết ngổi, có thể cùng mẹ chơi trò Cất Rớ Chống Rớ ,  đặt con nằm ấp trên hai ống chân mẹ, mông con an vị trên hai bàn chân mẹ, hai tay nắm chặt hai tay con, mẹ nằm ngửa, vừa nâng hai chân lên cao vừa đọc:

          Cất rớ lên!  Bỏ rớ xuống!

          Cá chi?  Cá bống!  Chống rớ!

          Cá chi?  Cá rô!  Chống rớ!!

          Cá chi?  Cá hồng!  Chống rớ! …

Vẫn vị thế đó, có thể đổi cách chơi qua trò cỡi ngựa, hát mà chơi, nhún nhẩy đong đưa theo bài đồng dao:

          Nhong nhong nhong nhong

          Ngựa ông đã về

          Cắt cỏ bồ đề

          Cho ngựa ông ăn

          Nhong nhong nhong nhong …

 

Mẹ tập con chơi mà học, quan sát theo dõi: 

          Một ngón tay nhúc nhích này/ một ngón tay nhúc nhích này

          Một ngón tay nhúc nhích cũng đủ cho ta vui vầy…

          Hai ngón tay nhúc nhích này/ hai ngón tay nhúc nhích này!

          Hai ngón tay nhúc nhích cũng đủ cho ta vui vầy!   …

và cứ thế tiếp tục cho đến mười ngón.  Bài này có phần nhạc ở phụ lục. 

Tay mẹ tay con có nhiều trò thú vị.  Hát mà chơi với bài đồng dao Kéo Cưa Lừa Xẻ, khi con biết ngồi, hai mẹ con cùng nắm tay nhau kéo qua kéo lại:

          Kéo cưa lừa xẻ/ ông thợ nào khỏe/  về ăn cơm trưa

         Ông thợ nào thua/ về bú tí mẹ

hay:   Cút ca cút kít/  làm ít ăn nhiều/  nằm đâu ngủ đấy

          Nó lấy mất cưa/ lấy gì mà kéo!!!

 

Vẫn tay mẹ tay con:

          Xỉa cá mè/ đè cá chép

          Tay nào đẹp/ đi hái hoa

          Tay nào thô/ đi mót củi

          Tay dính bụi/ đừng dụi mắt …

Cũng bài Xỉa Cá Mè nhưng chơi với hai chân:

          Xỉa cá mè/ đè cá chép

          Chân nào đẹp/ đi buôn men

          Chân nào đen/ ở nhà làm… chó   (hay mèo) và sủa gâu gâu như chó hoặc kêu meo meo như mèo để mẹ con cùng vui.

 

Mẹ con vuốt tay vỗ đập tay nhau nhịp hai theo bài đồng dao Vuốt hột nổ nói đến những vật dụng hàng ngày.  Bảo con chắp tay lai,  mẹ cũng chắp tay xong mở ra vuốt hai bàn tay con, vừa vuốt vừa đọc, mỗi lần vuốt xong là vỗ tay, và có thể tiếp nối vô tận:

          Vuốt hột nổ

          Đổ bánh bèo

          Xao xác …  quạ kêu

          Nồi đồng vung méo/ cái kéo thợ may

          Cái guộng đắp bờ/ cái cờ làng tế

          Cái ghế để trèo/ cái khoèo mót củi

          Cái chủi tòe loe/ cái khe nước chảy

          Cái xảy xảy rơm/ cái nơm chơm cá

          Cái ná bắn chim/ cái kim may áo

          Cái gáo múc nước/ cái lược chải đầu

          Cái câu câu cá/ cái rá vo gạo … 

Mẹ con ngồi đối mặt nhau, mẹ vừa hát vừa tập con vỗ tay.  Hát mà học,  vì  khi lớn lên bé sẽ cùng vui chơi với anh hoặc chị, và cách chơi khó hơn: vừa đọc bài đồng dao  vừa tự vỗ tay mình xong vỗ tay trái chéo vào tay trái người kia; trở lại tự vỗ tay, rồi vỗ tay phải mình chéo qua tay phải người kia, và tiếp tục ban đầu chậm sau nhanh dần cho đến hết bài.  Một bài đồng dao khác cho trò chơi này là:

          Tập tầm vông

          Chị lấy chồng/ em ở góa/ chị ăn cá/ em mút xương

          Chị nằm giường/ em nằm đất/ chị húp mật/ em liếm ve

          Chị ăn chè/ em liếm bát/ chị coi hát/ em vỗ tay

          Chị ăn mày/ em xách bị/ chị làm đĩ/ em thâu tiền

          Chị đi thuyền/ em đi bộ/ chị kéo gỗ/ em lợp nhà

          Chị trồng cà/ em trồng bí/ chị tuổi Tý/ em tuổi Thân

          Chị tuổi Dần/ em tuổi Mẹo

          Chị kéo kẹo/ em nấu đường/ chị trồng thơm/ em trồng khóm

          Chị đi xóm/ em coi nhà/ chị thờ cha/ em nuôi mẹ

          Chị trồng hẹ/ em trồng hành/ chị để dành/ em ăn hết

          Chị đánh chết/ em la làng/ chị đào hang/ em chui tuốt …

Vẫn trò chơi dùng hai tay nhưng đông người hơn, có thể dùng một cái gậy hay thanh trúc để các em nắm tay chồng lên nhau lần lượt và tiếp tục cho hết bài.  Không có gậy thì chỉ cần chồng tay lên nhau.  Trò chơi này gọi là Hát Đúm/ Cùm nụm cùm nịu hay Tay tí tay tiên:

          Cùm nụm cùm nịu/ tay tí tay tiên

          Đồng tiền chiếc đũa/ hột lúa ba bông

          Ăn trộm ăn cắp trứng gà

          Bù xa bù xít/ con rắn con rít

          Thì ra tay này!

Vẫn tay mẹ tay con, khi con biết xử dụng tay chân, mẹ con cùng chơi trò thi chân đẹp hoặc mẹ giúp con theo dõi chơi Nu na Nu nống cùng các anh chị. Ngồi trong lòng mẹ, bé chỉ tập trung theo dõi, chăm chú nghe và nhìn, lanh mắt lẹ tay nhanh chân học mà chơi theo luật chung:

          Nu na nu nống/ cái cống nằm trong

          Cái ong nằm ngoài/ củ khoai chấm mật

          Phật ngồi Phật khóc/ con cóc nhảy ra/ con gà ú ụ

          Nhà mụ thổi xôi/ nhà tôi nấu chè

          Tè he cống rụt!

 

          Nu na nu nống/ thằng công cái cạc

          Đá xỉa đá xoi/ đá đầu con voi/ đá lên đá xuống

          Đá ruộng bồ câu/ đá râu ông già

          Đá ra đường cái/ gặp gái đi đường

          Có phường trống quân/ có chân thì rút!

 

          Nu na nu nống/ đánh trống phất cờ/ mở cuộc thi đua

          Thi chân đẹp đẽ/ chân ai sạch sẽ/ gót đỏ hồng hào

          không bẩn tí nào/ được vào đánh trống!

Khi trẻ khá lớn đi đứng chạy nhảy vững vàng và đến trường, gia nhập những trò chơi tập thể dễ dàng cũng như học những bài đồng dao dần dà dài khó hơn, và mẹ chỉ để mắt theo dõi, hướng dẫn hoặc nhắc nhở giúp đỡ khi cần.

Có những bài đồng dao kết cấu liên hoàn lập đi lập lại, làm điệu bộ theo lời diễn đi diễn lại cho đến khi mệt nghỉ:

          Con vỏi con voi/  cái vòi đi trước

          Hai chân trước ịch đi ịch trước

          Hai chân sau ịch đi ịch sau

          Còn cái đuôi thì đi là sau rốt

          Tôi xin kể nốt cái chuyện con voi i í ị con voi

          Cái vòi í i ị đi trước …

 

          Con công hay múa/  nó múa làm sao?

          Nó rụt cổ vào/  nó xòe cánh ra

          Nó đỗ cành đa/  nó kêu ríu rít

          Nó đỗ cành mít/  nó kêu vịt chè

          Nó đỗ cành tre/ nó kêu bè muống

          Nó đỗ dưới ruộng/  nó kêu tầm vông

          Con công hay múa …

 

          Lúa ngô là cô đậu nành/  đậu nành là anh dưa chuột

          Dưa chuột là ruột dưa gang/  dưa gang là nàng dưa hấu

          Dưa hấu là cậu lúa ngô/  lúa ngô là cô đậu nành …

Ba bài liên hoàn khác về chim:

          Ác- là là cha ca-cưỡng/  ca-cưỡng là dượng bồ câu

          Bồ câu là dâu ác- là/  ác-là là cha cà- cưỡng … 

          Bồ-các là bác chim gi/  chim gi là dì sáo sậu

          Sáo sậu là cậu sáo đen/  sáo đen là em tu-hú

          Tu-hú là chú bồ-các/  bồ-các là bác chim gi …

 

          Cái cò mày mổ cái tôm/  cái tôm quắp lại mà ôm cái cò

          Cái cò mày mổ cái trai/  cái trai quặp lại mà nhai cái cò

          Cái cò mày mổ cái tôm …

 

Một bài đồng dao liên hoàn khác được Đức Quỳnh phổ nhạc và hát từ Bắc vào Nam, lời lẽ ngụ ý hài hước châm biếm:

          Con chim chích chòe/ nó kêu chích chòe

          Nó đậu cành chanh/ nó kêu chích chòe

          Tôi ném hòn sành/ nó quay lông lốc

          Tôi làm một chốc/ được ba mâm đầy

          Ông thầy ăn một/ bà cốt ăn hai

          Cái đầu cái tai/ đem về biếu chúa

          Chúa hỏi chim gì? – Là con chim chích chòe!

          Nó kêu chích chòe/ nó đậu cành chanh …

Bài đồng dao có nhạc trong Nam lời hát như sau:

          Con chim manh manh/ nó đậu cây chanh

          Tôi vác miểng sành/ tôi liệng nó chết

          Tôi làm được bảy mâm/ tôi dâng cho ông một mâm

          Tôi dâng cho bà một đĩa/ bà hỏi tôi con chim gì?

          Tôi nói con chim manh manh …

Có một trò chơi trong Nam gọi là Bắc Kim thang, dùng bài đồng dao ngô nghê ngộ nghĩnh khi các em làm thành vòng tròn, chân trái xỏ rế ngoéo vào chân trái bạn, vừa vỗ tay vừa nhảy lò cò bằng chân phải và giữ không bị té, cùng hát:

          Bắc kim thang, cà lang bí rợ

          Cột qua kèo là kèo qua cột

          Chú bán dầu qua cầu mà té

          Chú bán ếch ở lại làm chi?

          Con le le đánh trống thổi kèn

          Con bìm bịp thổi tò te tí te ……

Em nào không vững thăng bằng bị té là thua, bị phạt búng tai hoặc khẻ tay nếu là con gái, hoặc phải cõng bạn cùng cặp chạy một vòng nếu là con trai.  Vui tếu thì phạt bằng quẹt nhọ nồi/ lọ nghẹ lên mặt.  Các em trai còn bị phạt làm ngựa cho bạn cỡi, nhẹ thì dùng bài đồng dao ngắn Nhong nhong nhong nhong, mà phạt nặng hoặc trẻ lớn thì dùng bài Lý Ngựa ô.  Lý Ngựa ô cũng có ba điệu phổ nhạc, Bắc, Trung và Nam.

 

Trò  trốn tìm/ ú tim/cút bắt được trẻ con khắp thế giới vui chơi, và đồng dao ta có rất nhiều bài cả đám cùng loạt đọc lên để chọn người phải đi tìm.  Bài đặc biệt có tính cách một bài  sấm dính đến lịch sử, nói về giai đoạn rối loạn của triều đình Nhà Nguyễn và phong trào Cần Vương, thời ta bị Pháp đô hộ:

          Chu tri rành rành/  Cái đanh nổ lửa

          Con ngựa đứt cương/  ba vương tập đế

          Cấp kế đi tìm/  ú tim …  òa ập!

Bài đồng dao trốn tìm/ thả đỉa ba ba:

          Thả đỉa ba ba/ con đỉa đeo bà

          Con gà tục tác/ mỏ-nhát cầm chầu

          Con mèo cầm lái/ con rái chạy buồm

          Con tôm tát nước/ vọc nước giỡn trăng

Bài Thả đỉa ba ba khác:

          Thả đỉa ba ba

          Chớ bắt đàn bà/ phải tội đàn ông

          Cơm trắng như bông/ gạo tiền như nước

          Sang sông về đò/ đổ mắm đổ muối

          Đổ nải chuối tiêu/ đổ niêu cứt gà

          Đổ phải nhà nào/ nhà ấy phải chiu!

Khi đám trẻ chạy tìm chỗ nấp, em còn lại phải bịt mắt đọc bài đồng dao khác đến hết mới được mở mắt đi tìm:

          Mít mật mít gai/ mười hai thứ mít

          Đi vào ăn thịt/ đi ra ăn xôi

          Bởi chẳng nghe tôi/ tôi bịt mắt chú

          Ăn đâu ẩn kín/ lúa chín thì về!

  

 

Chơi bịt mắt bắt dê, tranh Võ Đình

 

Ngoài Bắc có bài đồng dao khác và Phạm Duy đã mượn ý phổ nhạc:

          Ông trẳng ông trăng

          Xuống chơi với tôi/ có bầu có bạn

          Có oản cơm xôi/ có nồi cơm nếp

          Có nệp bánh chưng/ có lưng hũ rượu

          Có chiếu bám đu/  thằng cù xí xoại

          Bắt trai bỏ giỏ/ cái đỏ ẵm em

          Đi xem đánh cá/ đem rá vo gạo

          Có gáo múc nước/ có lược chải đầu

          Có trâu cầy ruộng/ có muống thả ao

          Ông sao trên trời …

Hoặc:

          Ông tiễn ông tiên

          Ông có đồng tiền/ ông giắt mái tai/ ông cài lưng khố

          Ông ra hàng phố/ ông mua miếng trầu/ ông nhai tóp tép

          Ông mua con tép/ về ông ăn cơm

          Ông mua mớ rơm/ về ông đánh thổi

          Ông mua cái chổi/ về ông quét nhà

          Ông mua con gà/ về cho ăn thóc

          Ông mua con cóc/ về thả gậm giường

          Ông mua nén hương/ về cúng ông cụ!

 

Tranh dân gian của Henry Oger đầu thế kỷ XX,

chú thích bằng chữ Nôm: Đánh Cờ Chân Chó

 

Làm Hùm Bắt Lợn 

Khi trẻ đã lớn, đã đi học và có nhiều bạn cùng lứa, có rất nhiều trò chơi dùng những thứ kiếm được ngay chung quanh hoặc tự chế lấy, ví như bắn ná làm bằng nạng ổi, bắn súng bẹ sống lá chuối, bắn súng ống hóp đạn hạt sầu đông hoặc hạt mâm xôi, bắt chuồn chuồn, buôn bán bằng hoa lá, cái lung tung/ cái trống bỏi, chong chóng bằng lá dừa, con gà đất có gắn ống cói ống sậy thổi te te, con giống, cối xay làm bằng hạt xoài cưa hai, đánh căn với hai khúc tre hay gỗ, đánh bi, đánh cờ chân chó, cờ  gánh bằng vỏ nghêu vỏ sò, đánh đáo, đánh đu dựng bằng tre, đánh trận giả với cây cành hoa lá như Cờ Lau Tập Trận của Đinh Bộ Lĩnh thuở còn chăn trâu, đánh thẻ, đánh vụ làm bằng gỗ, đá kiện làm bằng đồng xu buộc lông, đá cầu lông, đạp mạng, đạp lon, đi chợ về chợ, kéo co với giây dừa, làm hùm bắt lợn, lộn cầu vồng, lộn chuồn chuồn, liệng cống, năm tiền liền quan, ném còn làm bằng vải vụn, ném vòng làm bằng tre hoặc mây vào cọc tre hay gỗ,  nhảy giây làm bằng giây dừa, nhảy lò cò với mảnh ngói mảnh sành mảnh sứ , rải ô quan/ rải ô làng dùng sỏi, sạn hay hạt đậu, xây khăn/ bỏ khăn/ chuyền khăn, thả diều làm bằng tre dán giấy …  vô số kể.

 

Cờ Lau Tập Trận, tranh Võ Đình 

Những trò chơi hầu hết cần vận dụng đầu óc bén nhạy tinh tế tính toán chính xác, điều động tay chân nhanh nhẹn, thích nghi với môi trường thiên nhiên và luyện tập quen dần với đời sống tập thể trong cộng đồng.  Hát chơi mà học thật. 

 

Bài đồng dao trò chơi Xây khăn trong Nam, trẻ ngồi thành vòng tròn, một em cầm khăn chạy ngoài, cùng đọc cho đến hết thì bỏ khăn sau lưng một bạn.  Em này phải chú ý theo dõi để nhặt khăn chạy vòng, nhường chỗ cho bạn, nếu không biết sẽ bị loại khỏi cuộc chơi.

 

Đá cầu bằng đồng xu, tranh dân gian của Henry Oger 

           Xây khăn, khăn nổi khăn chìm

          Ba bên bốn phía đi tìm cái khăn

          Thằng chăn bận áo rách vai

          Không ai may vá, thằng chăn bận hoài

Trò chơi Chuồn chuồn miền Trung và Lộn Cầu Vồng ngoài Bắc có cách chơi giống nhau nhưng khác bài đọc:

          -  Chuồn chuồn đạp nước kim cang/ bên tê mở cửa bên ni sang lòn

          -  Lộn cầu vồng nước trong nước chảy

          Có anh mười bảy có chị mười ba

          Hai chị em ta cùng lộn cầu vồng

Bài đồng dao trò Dung giăng dung giẻ đọc khi đi quanh nhiều vòng tròn,  những vòng này luôn thiếu một để đến cuối khi ngồi xệp xuống sẽ có một em chậm chạp bị loại:

          Dung giăng dung giẻ/ dắt trẻ đi chơi

          Đi tới cổng trời/ gặp cậu gặp mợ

          Cho cháu về quê/ cho dê đi học

          Cho cóc ở nhà/ cho gà bới bếp

          Ngồi xệp xuống đây!

Một bài đồng dao về cuộc sống luẩn quẩn loanh quanh trong nhà ngoài vườn trong xóm ngoài làng là Ông Ninh Ông Nang được Lê Thương phổ nhạc:

          Ông Nỉnh ông Ninh/ ông ra đầu đình/ ông gặp ông Nảng ông Nang

          Ông Nảng ông Nang/ ông ra đầu làng/ ông gặp ông Nỉnh ông Ninh

          Nang Ninh đầu đình/ và Ninh Nang đầu làng

          Nang Ninh làng đình/ rồi Ninh Nang đình làng

          Nang Ninh làng đình Nang Ninh/ Ninh Nang đình làngNang Ninh

          Nang Ninh làng đình Ninh …

Cô Chiểu cô Chiêu/ cô qua cầu Kiều/ cô gặp cô Thỏa cô Thoa

Cô Thỏa cô Thoa/ cô qua vườn cà/ cô gặp cô Chiểu cô Chiêu

Thoa Chiêu cầu Kiều/ và Chiêu Thoa vườn cà

Rồi Thoa Chiêu cầu Kiều/ rồi Chiêu Thoa vườn dừa

Cả Chiêu Thoa cầu Kiều Chiêu Thoa/ Thoa Chiêu vườn cà Chiêu Thoa

Thoa Chiêu vườn cà Thoa …

          Em Thở em Thơ/ em qua hàng dừa/ em gặp em hải em Hai

          Em Hải em Hai/ em qua vườn xoài/ em gặp em Thở em Thơ

          Thơ Hai vườn xoài/ và Hai Thơ vườn dừa

          Rồi Thơ Hai vườn xoài/ và Hai Thơ vườn dừa

          Cả Thơ Hai vườn xoài Thơ Hai/ Hai Thơ vườn dừa Thơ Hai

          Thơ Hai vườn xoài Thơ  … 

Một bài đồng dao khác được phổ nhạc là Trằng Bờm, nói lên đầu óc thực tiễn của dân quê không cần xa hoa phù phiếm cung ngũ long lầu ngũ phụng dinh thự cao ốc hay đặc sản miếng ngon vật lạ, mà chỉ muốn no bụng:

          Thằng Bờm có cái quạt mo/ phú ông xin đổi ba bò chín trâu

          Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu/ phú ông xin đổi ao sâu cá mè

          Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè/ phú ông xin đổi ba bè gỗ lim

          Bờm rằng Bờm chẳng lấy lim/ phú ông xin đổi một đôi chim mồi

          Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi

          Phú ông xin đổi nắm xôi…  Bờm cười!!!

 

Thuở nhỏ tôi  nghịch ngợm hát bài đồng dao Thằng Bờm và có nhịp điệu khác:  Thì ra mo cau vàng mới tinh/ phú ông lập tâm mua liền!  Thằng Bờm mà biết cóc chi/ Thằng Bờm mà biết cái cóc chi!  Chăng chẳng lấy trâu/ Bờm rằng thì là Bờm chăng chẳng lấy trâu đâu!!!

 

Trò chơi tôi thích nhất hồi còn tiểu học là đánh thẻ chuyền/ đánh banh đũa, nhưng đến nay không nhớ được trọn bài đồng dao đọc đệm.  Duyên may quen một gia đình nhà quê mộc mạc, bà mệ tám mươi sáu và bà mạ sáu mươi, không biết đọc biết viết nhưng còn nhớ kỹ.  Bỏ một ngày thăm hỏi cùng ôn trí nhớ, ghi trọn được trò chơi này.

 

Dùng tay phải nắm nguyên bó đũa 6 chiếc hoặc nhiều hơn, cùng một trái banh, có khi chỉ là quả chanh hay một bó vải vụn cuộn thành hình trái banh.  Vừa thảy banh lên là trải đũa ra nhanh cho kịp bắt chụp lại trái banh, rồi lần lượt ném banh vừa bắt từng cây đũa một, rồi hai, ba, bốn … tức là phải tính chính xác làm sao vừa ném banh lên là phải nhanh mắt nhanh tay tính toán nắm đúng số đũa cần lấy đưa ngay sang tay kia và kịp thời bắt chụp lại trái banh.  Trò chơi này hình như chỉ có trẻ Việt Nam ta yêu thích và hợp với con gái.  Bài đồng dao đọc theo lúc ném banh, bắt đầu ném banh và bắt một đũa, đọc tối đa đến cuối câu phải tóm lại được trái banh, nếu trật phải nhường người kia chơi:

          Cái mốt   (bắt một đũa)       

          Cái mai/ con trai/ con hến

          Con nhện/ giăng tơ/ quả táo/ cái gáo

          Lên đôi   (bắt hai đũa)

          Đôi cái mõ/ đôi nồi chõ

          Đôi thổi xôi/ đôi nấu chè/ đôi cành tre

          Lên ba   (bắt ba đũa)

          ……….

 

Khi nhặt hết đũa thì bỏ tất cả xuống để ném banh bốc cả nắm đổi sang các giai đoạn kế tiếp là con ba lại,  con gang, sang tay cầm, kẹp nách, cầm quạt rẽ xương, sang tay giã, giã đơn hoặc giã đôi tùy giao ước ban đầu, nhập giã, rút ống, nhập ống, sang tay tao tức là chuyền.  Mỗi giai đoạn này đọc tên báo sự thay đổi chuyển tiếp. Giai đoạn chuyền, một vòng hoặc hai vòng tùy giao ước trước khi chơi, vừa chuyền vừa ném banh rồi chụp banh lại và đọc:

          Chuyền chuyền một/ chuyền chuyền hai/ chuyền chuyền ba

          Chuyền chuyền bốn/ chuyền chuyền năm/ chuyền chuyền sáu

Cuối cùng là nẻ hay khẻ, tức là đập cả bó đũa vào chân người thua cuộc, vừa đập vừa thảy banh vừa đọc đoạn cuối bài đồng dao:

          Qua cầu, lặn cỏ/ núi đỏ như ma/ hầm sa/ mây sắc

          Bắt con cá, chặt đuôi, chặt đầu

          Têm miềng trầu, hầu chén rượu

          Ai có tiền, ngồi liền lên ghế

          Ai không tiền, liệu thế liệu thần

          Sang tay nẻ, khẻ chân 

  

Nẻ/ khẻ chân xong là thắng,  Đoạn đồng dao cuối này lại khác nếu do các nữ sinh Đồng Khánh mà nay là những mệ có cháu nội ngoại đề huề:

          Ai muốn cao, ngồi ghế/  ai muốn thấp, ngồi đòn

          Ai muốn đỏ, bôi son/ ai muốn vàng, bôi nghệ

          Qua cầu Chợ Kệ/ về cầu Thanh Lương

          Sang tay bắt con một.  – Ăn!  (tức là thắng)

Đoạn cuối lúc nẻ, mấy mệ  ngoài Bắc lại đọc khác:

          Đầu quạ quá giang/ sang sông về đò

          Cò nhẩy gãy cây/ mây bay bèo trôi

         Ổi xanh, hành bóc/  róc vỏ, đỏ lòng

         Tôm cong đít vịt

         Sang cành nẻ/ bẻ cành xanh

         Vét bàn thiên hạ  (tức là thắng) 

Trong số 54 sắc dân sinh sống tại Việt Nam, người Mường là chị em của người Việt, cùng thờ Vua Hùng, cùng chung truyền thuyết một mẹ trăm con, cùng mặc yếm váy và áo tứ thân và đặc biệt cùng nói chung ngôn ngữ.  Trẻ con Mường cũng có đồng dao kèm trò chơi.  Ghi lại sau đây một:

          Lếu lêu làng lộc

          Tộc ngộc ngọn cơn bo   (cây hoang nhỏ có trái trẻ hay hái ăn)

          Bò ăn no bò ngứa củ ráy

          Ngứa củ ráy ngứa cả cơn rư    (cây nưa)

          Đưa bò về Mường Tráng

         Tám mươi người kiếm cỏ/ bò đỏ bò nhà lang

          Bò vàng, bò nhà đạo Ống

          Tùng tùng tùng tùng/ ai đánh trống mường trên

          Lền khên con ca trống gáy          (con gà)

          Gáy gáy trong rẫy ngoài mường/ vườn như vườn nhà ai

          Ông mo biểu mụ máy/ trấy bín  biểu trấy bù (trái bí/bầu)

          Măng mu biểu măng nứa/ bố đạo biểu mệ nàng

          Quan sang biểu kẻ khó/ bó ló biểu bó nếp  (bó lúa)

          Cơm nếp biểu cơm chim/ cào cào biểu châu chấu  (một loại gạo ngon)

          Cắt nứa rào cho ta chào cấm/ lấy lưỡi lấm cho ta cầm tiền

          Lấy lưỡi liềm cho ta cắt bái   (cỏ tranh)

          Lấy lưỡi hái cho ta hái        (lúa)

          Náng lấy chó cho ta ăn thịt/ náng con vịt cho ta ăn đùi  (nướng)

          Nuôi con ca cho ta lấy mỡ      (gà)

          Dệt lấy mớ lụa điều/ dệt nhiều nhiều cho ta cưới vợ …

 

Trẻ con miền Bắc ngày trước rất thích chơi Phụ đồng Phụ chổi, có tính cách huyền bí như lên đồng.  Bài đồng dao được đọc đi đọc lại cho đến khi đứa trẻ ngổi đồng được vía nhập:

          Phụ đồng phụ chổi/ thổi lổi mà lên

          Ba bề bốn bên/ sôi lên cho chóng

          Nhược bằng cửa đóng/ phá ra mà vào

          Cách chuôm cách ao/ cách ba ngọn rào

          Cũng vào cho lọt

          Cái roi von vót/ cái vọt cho đau

          Hàng trầu hàng cau/ hàng hương hàng hoa

          Là đồ cúng Phật

          Hàng chuối hàng mật/ hàng kẹo mạch nha

          Nào cô bán quế/ vừa đi vừa tế

          Một lũ học trò/ người cầm quạt mo

          Là vợ Ông Chổi

          Thổi lổi mà lên …

Một trò chơi được đám trẻ gái yêu thích, cách chơi giống nhau nhưng ngoài Bắc gọi là là Trồng Nụ Trồng Cà/ Trồng Nụ Trồng Hoa, và miền Trung gọi là Đi Chợ Về Chợ. Phải có bốn em, chia làm hai cặp.  Một cặp ngồi, lần lượt duỗi chồng từng bàn chân lên nhau rồi chồng bàn tay làm hoa, trong khi cặp kia đi qua đi lai rồi nhảy qua nhảy lại, vừa đọc:

          Đi chợ/ về chợ                    (chưa đưa chân)

          Đi canh một/ về canh một   (đưa một bàn chân)

          Đi canh hai/ về canh hai     (chồng thêm một chân, là hai bàn chân)

          Đi canh ba/ về canh ba       (chồng thêm, ba bàn chân)

          Đi canh tư/ về canh tư         (chồng thêm, bốn bàn chân)

          Đi sen búp/ về sen búp        (chồng thêm một bàn tay chụm lại)

          Đi sen nở/ về sen nở            (chồng thêm bàn tay hơi xòe nở)

          Đi sen tàn/ về sen tàn          (bàn tay hoa nở xòe rộng hết cỡ)

 

Đi Chợ Về Chợ, tranh Võ Đình, XI-07 

Trong trò chơi này, hai em ngồi chồng chân và xòe tay phải giữ thăng bằng, nếu bị đổ chân là thua.  Hai em đi qua đi lại nhảy qua nhảy về nếu bị đụng chân hay tay hai em kia là thua.  Cặp thua bị loại để  hai em khác vào thay.

 

Nhưng trong mấy trò chơi tập thể nhân Tết Trung Thu và Ngày Nhi Đồng Việt Nam, trẻ con Bắc Trung Nam đểu thích trò Rồng Rắn, gồm một đoàn ôm eo ếch nhau nối dài đi vòng vòng quanh sân, vừa đi vừa reo hò theo một em dẫn dầu làm thầy thuốc đọc :

          -  Này, rồng kia!                                       

          -  Dạ!

          -  Rồng đen hay rồng trắng?

          -  Rồng trắng!

          -  Rồng trắng lấy nước gạo mùa

          Rồng đen lấy nước cho vua đi cày!

         -   Anh em ta cùng kéo lúa về!

          Dô ô ô ô ô ô ô …

 

Ttranh dân gian của Henry Oger

Chú thích bằng chữ Nôm: Trẻ Con Làm Rồng Rắn

 

Bài đồng dao Rồng Rắn  cản thầy thuốc cầm cái quạt mo không cho ông bắt em nào trong đoàn, vừa đi vừa hát:

          Rồng rồng rắn rắn/ kéo rắn lên mây

          Thấy cây lúc lắc/ hỏi ông thầy thuốc có nhà hay không?

-       Có!

-       Mở cửa cho vào!

-       Vào làm gì?

-       Mượn cái liềm

-       Liềm làm gì?

-       Hái củi

-       Củi làm gì?

-       Nấu bánh chưng

-       Cho thầy ăn không?

-       Không!

Trò chơi Rồng Rắn không rõ có từ giai đoạn lịch sử nào, có thể liên hệ đến thảm kịch thời Trịnh Nguyễn phân tranh chiến tranh đẫm máu giữa Đàng Ngoài Đàng Trong, hay gần hơn, là cuộc nội chiến Quốc Cộng  xốc nổi đến tận cùng đời sống … với những nhân vật níu áo số mệnh nhau, như truyện dài Rồng Rắn của Lê Thị Huệ dẫn nhập.  Trò Rồng Rắn được trẻ con tham dự đông đảo nhất, cũng ôm eo ếch nối dài làm con rồng, vừa chạy vòng vòng vừa cùng đọc:

          Rồng rắn lên mây có cây xúc xắc

          Xúc xắc xúc xẻ …  Có thầy thuốc ở nhà không?

Một trẻ lớn làm ông thầy thuốc cầm quạt nan phe phẩy đi ra, đủng đỉnh hỏi:

Thầy thuốc:     -  Rồng rắn đi đâu?

Rồng rắn:         -  Rồng rắn đi lấy thuốc cho con.

Thầy thuốc:     -  Con lên mấy?

Rồng rắn:        -  Dạ, con lên một.

Thầy thuốc:     -  Thuốc chẳng ngon!

Rồng rắn:        -  Con lên hai.

Thầy thuốc:     -  Thuốc chẳng ngon!

Rồng rắn:        -  Con lên ba.

Thầy thuốc:     -  Thuốc chẳng ngon!

Rồng rắn:        -  Con lên bốn.

Thầy thuốc:     -  Thuốc chẳng ngon!

Rồng rắn:     …..

Thầy thuốc:   …..

Rồng rắn:        -  Con lên chín.

Thầy thuốc:     -  Thuốc chẳng ngon!

Rồng rắn:        -  Con lên mười.

Thầy thuốc:     -  Thuốc ngon vậy!  Xin khúc đầu!

Rồng rắn:        -  Những xương cùng xẩu!

Thầy thuốc:     -  Xin khúc giữa!

Rồng rắn:        -  Những máu cùng me!

Thầy thuốc:     -  Xin khúc đuôi!

Rồng rắn:        -  Tha hồ mà đuổi!

Đến đây thì đoàn rồng rắn vẫn ôm eo ếch nối nhau chạy đuổi bắt ông thầy thuốc cho kỳ được mới tan cuộc, giữa những tiếng vỗ tay reo hò cổ võ của những người đứng xem, trong số có những bà mẹ chứng kiến con mình lớn khôn trong tập thể, trong cộng đồng.  Bài đồng dao này có giá trị như một bài sấm, một bài học lịch sử, và cũng là một bài luân lý giáo khoa thư nói lên tình đoàn kết nhất trí của Rồng Rắn, toàn dân quyết giữ gìn trọn khối chung, đánh đuổi quân xâm lược lăm le chiếm đất đai, đã hớt khúc đầu Nam Quan, lại xén đoạn giữa Trường Sa và gây tai hại đồng bằng Cửu Long miền Nam. 

Những bài đồng dao và trò chơi trẻ con góp nhặt ở đây chưa đầy đủ và cần bổ túc, nhưng có chủ đích góp phần gìn giữ kho tàng văn học dân gian trước khi bị thất truyền hay quên lãng, chôn vùi dưới hàng hàng lớp lớp đồ nhựa lắp ráp máy móc Toys ‘R’ Us, CDs, DVDs, video games, PC Games, puzzles, dominos, bingo, i-pods, cell phones … và vô số trò khác ào ạt trên mạng lưới điện tử của thời đại @ còng.  Ngay tại các nước Âu Mỹ, nhiều tài liệu cũng sưu tầm ghi lại trò chơi trẻ con kèm những ballads, là thơ xưa từ thế kỷ XV/ XVI được phổ nhạc có điệp khúc lập đi lập lại, và Shakespeare từng trích dẫn vào tác phẩm.

 

Chúng ta đang ở đầu thế kỷ XXI.  Mai sau, dù có bao giờ, phần sưu tầm biên khảo nhỏ nhoi này mong còn được đôi khi lần giở trước đèn, để may ra có người mở trang sách cũ tìm hiểu về đất lề quê thói, thấy rõ ràng kho tàng văn học dân gian đặt nặng giáo dục gia đình trên vai người mẹ.  Những lời ru ca dao ạ ơi ời hà hơi văn hóa mẹ vào tâm hồn trẻ từ lúc mở mắt chào đời cho đến khi chập chững lững thững những trò chơi đi kèm đồng dao, để từ đó vững bước vào xã hội.  Hát mà chơi.  Hát mà học.  Hát chơi mà học thật.  Học làm NGƯỜI.

 

Trần thị LaiHồng

Từ tiểu bang xanh 1987 qua Hoa bang 2007

 

Xem Thêm

Những bài đồng dao xưa

Tác Giả HẢI-VÂN

Cuối Tháng Mười Một. Thành phố Santa Ana chìm trong giá lạnh. Chẳng thấy mây bay chẳng nghe gió thổi, nhưng rét buốt vẫn thấm vào đến tận linh hồn người ta. Nắng thủy tinh rạng rỡ lẩn khuất giữa hư vô, nhường chỗ cho mưa rơi từng giọt nhẹ. Không gian mênh mông phủ trùm vạn vật trong màu khói, mở sẵn con đường dẫn đưa lòng tôi trở về kỷ niệm. Quá khứ là thơ, đem thơ phổ thành ca khúc, hát lên niềm vui dung dị của thời lên năm lên bảy:

 

 

“- Cái mốt, cái mai. Con trai, con hến. Con nhện giăng tơ. Quả mơ, quả mận. Cái cận, lên bàn đôi. Đôi chúng tôi. Đôi chúng nó. Đôi con chó. Đôi con mèo. Hai chèo ba. Ba đi xa. Ba về gần. Ba luống cần. Một lên tư. Tư củ từ. Tư củ tỏi. Hai hỏi năm. Năm em nằm. Năm lên sáu. Sáu lẻ tư. Tư lên bảy. Bảy lẻ ba. Ba lên tám. Tám lẻ đôi. Đôi lên chín. Chín lẻ một. Mốt lên mười. Ngả năm mươi. Mười vơ cả. Ngả xuống đất. Cất lên tay. Xoay ống nhổ. Đổ tay chuyền. Chuyền chuyền một, một đôi tay…”

 

Đánh bổng, Đánh Thẻ, Đánh Đũa, Chơi chuyền



Tôi mơ hồ nhìn thấy trái banh đánh bổng, tiếng nẻ kêu răng rắc, đôi tay thoăn thoắt chuyền. Lại nhớ

“- Qua cầu lặn cỏ, núi đỏ như ma, hầm sa mây sắc. Bắt con cá, chặt đuôi, chặt đầu. Têm miếng trầu, hầu chén rượu. Ai có tiền, ngồi liền lên ghế. Ai không tiền, liệu thế liệu thần. Sang tay nẻ, khẻ chân…”

 

Bài đồng dao ngỡ đã quên, bất ngờ giữa ngày đông chí hiển hiện rõ ràng trong tâm tưởng. Đánh thẻ chuyền - đánh banh đũa là trò chơi thuở xưa bé gái nào cũng thích. Nắm nguyên bó đũa sáu chiếc hay nhiều hơn trong tay, khi vừa thảy banh lên phải trải đũa ra thật nhanh, để bắt cho được trái banh. Cứ thế tuần tự vừa ném banh, vừa bắt từng chiếc đũa. Bắt đầu là một chiếc, hai chiếc, rồi ba chiếc, cho đến khi hết. Banh vừa được tung ra, tay nắm đúng số đũa cần lấy, rồi bắt lại trái banh; bởi vì nếu để banh rớt xuống đất xem như thua, phải nhường cho bạn khác chơi. Tuổi thơ thuộc thế hệ của tôi là như vậy đó, ai cũng say mê các trò chơi đơn thuần, bàng bạc những câu đồng dao đầy vần điệu.

Mỗi bài đồng dao đều đi kèm với một trò chơi, như bài đồng dao “Đánh Thẻ Chuyền.” Hay đi kèm với động tác minh họa, như bài

“Con Công.” “- Con công hay múa, nó múa làm sao? Nó rụt cổ vào, nó xòe cánh ra. Nó đỗ cành đa, nó kêu ríu rít. Nó đỗ cành mít, nó kêu vịt chè. Nó đỗ cành tre, nó kêu bè muống. Nó đỗ dưới ruộng, nó kêu tầm vông. Con công hay múa ...”

Nhưng cũng có những bài chẳng dính dáng gì đến trò chơi hay động tác, chỉ cốt giúp trẻ em khi ngân nga đọc sẽ thấy vui. Chẳng hạn bài

“Ông Tiển Ông Tiên.” “- Ông tiển ông tiên. Ông có đồng tiền. Ông giắt mái tai. Ông cài lưng khố. Ông ra hàng phố. Ông mua miếng trầu. Ông nhai tóp tép. Ông mua con tép. Về ông ăn cơm. Ông mua mớ rơm. Về ông đánh thổi. Ông mua cái chổi. Về ông quét nhà. Ông mua con gà. Về cho ăn thóc. Ông mua con cóc. Về thả gầm giường. Ông mua nén hương. Về ông cúng cụ!”

Hầu như bất cứ ai sinh ra và lớn lên trong thập niên 1950, 1960, và những năm đầu của thập niên 1970 đều biết các trò chơi của tuổi thơ:

 “Đánh Thẻ Chuyền, Dung Dăng Dung Dẻ, Trồng Nụ Trồng Cà, Rồng Rắn, Thả Đỉa Ba Ba, Chơi U Mọi, Tay Trắng Tay Đen”…v.v…

Và những bài đồng dao quen thuộc

“- Nu na nu nống. Cái cống nằm trong. Cái ong nằm ngoài. Củ khoai chấm mật. Phật ngồi Phật khóc. Con cóc nhảy ra. Con gà ú ụ. Nhà mụ thổi xôi. Nhà tôi nấu chè. Tè he cống rụt...Nu na nu nống. Đánh trống phất cờ. Mở cuộc thi đua. Thi chân đẹp đẽ. Chân ai sạch sẽ. Gót đỏ hồng hào. Không bẩn tí nào. Được vào đánh trống. Nu na nu nống…”

Văn minh khoa học tiến bộ, tất nhiên sự giải trí cũng phải thay đổi cho phù hợp với thời đại kỹ thuật số. Trên khung trời cyber, có muôn vàn trang web chuyên trình bày các trò chơi. Người ta say mê những màn đấu trí mới, bị cuốn hút vào thế giới phong phú đa dạng của trò chơi điện tử. Không cần một nhóm người ôm nhau rồng rắn lên mây cũng chẳng cần tập tầm vông tay không tay có, người ta có thể chọn những games mình ưa thích ngồi thinh lặng hàng giờ chơi trên máy tính, trên Laptop, trên iPhone, chơi với bạn hữu ở khắp năm châu bốn bể. Những người tham dự chỉ biết nickname của nhau, rất hiếm khi biết rõ ai là ai, thành viên không cố định, nay “gặp” người này mai “thấy” người khác. Không giống như xưa, mỗi một trò chơi đều phân chia thành nhóm thực tế, dù còn thơ ấu trẻ em cũng chỉ chơi với những ai được gọi là bạn hữu thân tình. Bây giờ cõi ảo không tỏ mặt người, game over mỗi người một ngả, rất hiếm có những tình bạn chân thực, chẳng hề liên lạc lâu bền. Cũng không thể nói ngày xưa kết giao có tình có nghĩa hơn, hay bây giờ mối quan hệ giữa người với người thật hời hợt. Bởi vì mỗi thời đại mỗi thế hệ có một xu hướng riêng. Cõi người ta tự giao lưu thư giãn theo cách mà họ cho là thích hợp nhất, thoải mái nhất, vui vẻ nhất. Chỉ biết rõ một điều: Những bài đồng dao gắn liền với các trò chơi dung dị ngày xưa, đã không còn sức thu hút. Hương đồng gió nội của những câu có vần có điệu càng xa vắng, khi người ta chọn đất khách là nhà.

Qua biết bao hừng đông, qua biết mấy chiều tà, những cô bé cậu bé ngày xưa bây giờ đã thành lão niên, hay đã bước vào tuổi trung niên. Trong tiềm thức của họ cũng như tôi, may ra còn sót lại dư âm những bài đồng dao gần như đã mai một theo năm tháng. Hàng trăm bài đồng dao, hàng trăm trò chơi, hàng trăm bài hát của các tác giả vô danh, truyền khẩu khắp ba miền Bắc-Trung-Nam của Việt Nam từ đời trước nối tiếp đời sau, từ vùng này qua vùng khác, đã bị biến đổi, bị sai lạc, bị thất truyền, và bị quên lãng. Người hoài cổ muốn tìm một thoáng hương xưa, phải đọc những quyển sách biên khảo về văn học dân gian của các học giả Nguyễn Văn Vĩnh, Ôn Như Nguyễn Văn Học, Vũ Ngọc Phan, Trương Tửu, Trương Anh Thụy…v.v…Vì ghi chép theo ký ức và theo địa phương nên có nhiều dị bản, khó có thể khẳng định văn bản nào đúng nhất. Thí dụ như chỉ riêng bài “Chi Chi Chành Chành,” đã có hai văn bản. Một là “Chi chi chành chành. Cái đanh thổi lửa. Con ngựa chết trương. Ba vương ngũ đế. Chấp chế đi tìm. Ù à ù ập.” Hai là “Chu tri rành rành. Cái đanh nổ lửa. Con ngựa đứt cương. Ba vương tập đế. Cấp kế đi tìm.Ú tim òa ập!”

Lặng nghe tiếng mưa rơi giữa đêm khuya, tôi nhớ ngày xưa đã cùng bạn hữu ngâm nga “nu na nống, đánh trống phất cờ,” đã chơi “oẳn-tù-tì, bàn tay trắng bàn tay đen, tay ma-rốc đen xì, tay Việt Nam trắng nõn, đã đếm…năm, mười, mười lăm, hai mươi, hai mươi lăm, ba mươi… một trăm…Những người muôn năm cũ bây giờ ở đâu? Làm sao có thể nhìn thấy nhau khi quá khứ đã lùi vào bóng tối, khi đường xa thăm thẳm viễn phương, bên ni bên nớ vô thường cõi chơi. Thời gian ly tán xa vời, câu thơ kỷ niệm sầu rơi bến nào. Từ bến luân hồi thương cảm, tiếng gọi thuyền sang sông vang trên mặt nước tối om. Gió nghiêng chiều say. Gió lay ngàn cây. Gió nâng thuyền mây. Gió gieo sầu miên. Gió đau niềm riêng. Gió than triền miên….[1] Tưởng như tìm nhau giữa rừng thu ảo. Tìm nhau trở giấc chiêm bao. Tìm nhau sắc không pháp bảo. Tình khúc đông phương kiếp nào. Tưởng như cõi ngoài mây trắng đông hiên, tình trong ý ngỏ thương hiền hữu ca. Buông dây phím mộng hoàng hoa, tiếng đàn kỳ ngộ giang hà quán không. Thật xa đồi núi mênh mông, còn chăng chiếc bóng về trông gặp hình. Một thoáng gió vào làm mắt cay, xui giục lòng tôi thương nhớ những bài đồng dao thuở ấu thời.

[1]. Ca khúc “Đêm Đông.” Nhạc: Nguyễn Văn Thương. Lời: Kim Minh

 

 

 

 

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Hỗ Trợ Kỹ Thuật

Hoàng Vân, Julia Nguyễn

Web Database

Nguyễn Hoàng Dũng
Xin vui lòng liên lạc với  haphuonghoai@gmail.com về tất cả những gì liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 10/19/17