Home T́m Ca Dao Trang Chủ Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
Cảm Nghĩ
 
Ẩm Thực
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Trang Chủ
 

 
 

 

 
 
 

Về G̣ Vấp, Nhớ Những Mảnh Vườn Xưa

 

PHẠM NGA

 

 

Ở Sài G̣n, có một thời mà cứ khoảng nửa đêm về sáng, phố phường c̣n say ngủ, trong không khí se lạnh và tĩnh lặng, chợt nghe êm ả làm sao tiếng xe ngựa lốc cốc ngoài đường. Đó là xe chở rau xanh và hoa tươi từ vùng ngoại ô như G̣ Vấp, Hốc Môn vào các chợ nội ô. Rồi ở những phiên chợ Tết hằng năm ở khu Bà Chiểu gần nhà tôi, rau xanh - loại thực phẩm rẻ tiền, tầm thường v́ quá quen thuộc hằng ngày - cũng khiêm tốn góp mặt bên cạnh trái cây, bánh, mứt, đồ trang trí tết... Đó là mấy thứ rau thơm, xà lách, tần ô, dền ớt, dền đỏ, cải dài (hay cải thảo), cải ngọt, cải bẹ xanh, bồ ngót.vv.., mà bà con tiểu thương gọi chung là đồ hàng bông. Cao sang hơn và làm đẹp hơn cho chợ Tết là các loại hoa đầy màu sắc tươi thắm, như: vạn thọ, thược dược, cúc vàng, măn đ́nh hồng… Chính vào thời ấy, tôi mới được biết là ở vùng G̣ Vấp, tức không xa đất Bà Chiểu cho lắm, từ xa xưa đă có nghề làm vườn, chuyên về rau và hoa, vốn nuôi sống nhiều gia đ́nh nông dân ở ngoại ô Sài G̣n.

Sau biến cố 30-4-1975, đâu khoảng những năm cuối thập niên 70, rất nhiều lần tôi đạp xe về khu vực nghĩa trang Vạn Thọ, thuộc phường 8 quận G̣ Vấp ngày nay, để thăm mảnh vườn của vợ chồng Tư Nhíu. Chúng tôi đă kết bạn qua 3 năm đi TNXP, cùng đào kênh, đắp đê, làm lúa đất phèn, trồng bo bo đất g̣… ở một nông trường vùng Củ Chi, rồi nông trường giải thể năm 1979, chúng tôi được xuất ngũ về nhà.

Tôi c̣n nhớ thời 1979, có một con đường ṃn cỏ mọc xác xơ, ngoằn nghoèo chạy giữa nghĩa trang, hai bên là hàng ngàn ngôi mộ cũ kỹ nằm im ĺm dưới ánh nắng. Ra khỏi nghĩa trang, nh́n xuyên qua những khóm tre là thấy những vạt đất thẳng thớm, lác đàc vài con ḅ, con heo và gà, vịt thả vườn. Trong số đó có miếng đất xéo xéo của Tư Nhíu, thường trồng đủ loại rau cải xanh.

Lần nào cũng vậy, vừa thấy bóng tôi ngoài hàng rào là lập tức Tư cười hể hả, ngưng ngay công việc đang làm trong vườn hay réo vợ ra làm thế để bày độ nhậu cóc, ổi, đậu phộng nấu… dưới gốc cây chuối ở mé vườn.

Đúng là bọn tôi không phong lưu ǵ cho lắm. Chỉ cách cái chiếu nhậu rách nát vài mét là sù sụ mấy ụ phân rác - đă được Tư phủ kín cho hoai dưới nắng trời - luôn luôn ban tặng cho dân nhà vườn cái mùi thối nồng và cả mấy “sư đoàn” ruồi, gịi. Vừa phẩy tay đuổi con ruồi xanh ĺ lợm đậu trên miệng chén mắm ruốc, tôi vừa hỏi Tư về một loại phân bón rau c̣n ghê hơn phân rác và phân chuồng (phân trâu, ḅ) nữa mà trong trại học tập cải tạo ở Trảng Lớn (Tây Ninh), tôi đă từng sử dụng - gọi là xử lư phân - theo lịnh cán bộ quản giáo để bón cho rau muống trồng trên đất, đặc biệt loại phân này lúc nào cũng dư xài v́ được lấy ra từ… nhà xí hai ngăn trong trại:

- Nè, cậu có dùng phân bác không đó?

- Anh nói phân bác ǵ?

- Th́ phân người đó! Mấy tờ báo về nông nghiệp dùng chữ này.

- À, hổng phải đâu, tui nghe nói, kêu đúng là phân bắc. Dân ở đây đâu có xài thứ này. Tui c̣n nghe nói là chỉ có một thời, cũng xưa lắm rồi, đâu ở miệt Phú Lâm, mấy người Hoa, hay đội cái nón lá bự bành ki, trồng cải ná, tức cải rổ đó, có lấy thứ này phơi nhiều nắng cho khô, rồi giă ra trộn với nước đái, gánh đi tưới. Chà, xài phân… đặc biệt như vậy th́ cây cải chắc là bự, ngọt hết chỗ nói hả?

Dân làm vườn như Tư vốn phải chịu quen với đủ thứ không được sạch sẽ, thơm tho ǵ. Mùi mồ hôi luôn luôn chua nồng trên người Tư do ngoài vườn, ngoài nắng th́ công việc làm hoài không hết. Dọn đất, lên luống, ươn cây con, rải phân, dọn cỏ, tưới nước, nhổ rau… Chỉ riêng việc tưới thôi mỗi ngày phải 3 bận sáng-trưa-tối. Có lần bị ăn trộm lẻn vô nhà lấy mất cái máy bơm “một ngựa”, vợ chồng Tư đă rất khốn đốn. Mùa mưa th́ thỉnh thoảng có thể bỏ tưới giấc trưa. Nhưng ngược lại, chính 6 tháng mùa mưa lại làm năng suất rau giảm, có khi giảm tới phân nửa, v́ rau rất dễ hư úng, nhất là đối với loại rau mỏng lá như xà lách. Dân trồng rau xem mùa mưa là mùa nghịch, thường phải giảm bớt số lượng rau ươn trồng v́ dễ “thua”. Về 6 tháng mùa nắng th́ cũng không phải hoàn toàn thuận lợi, dù thời gian này có dịp Tết nguyên đán để trồng hoa (dân Nam rặc như vợ chồng Tư nhất định kêu là trồng bông), bán được tiền hơn rau. Về công chăm sóc th́ hoa đ̣i hỏi người trồng phải chịu khó, chăm chút hơn trồng rau, đậu. Nhưng đó chỉ là chuyện nhỏ. Khè một tiếng sau hớp rượu, Tư - dân làm vườn cố cựu mấy đời - mới phân tích rành rẽ:

- Nói nào ngay, để đất trồng rau th́ rất mau ăn. Cải ngọt, cải bẹ chỉ cỡ 20 ngày là nhổ bán được rồi. Xà lách th́ chăm khó hơn nhưng cũng chỉ 25 ngày, nó lại chịu lạnh nên mùa gần Tết, trời mát, xà lách rất đẹp, đem bán thiệt ngon. C̣n nếu ḿnh dành đất trồng bông th́ cỡ 6 tháng mới bán được. Chừng tháng 6 ta là phải lo xuống giống mới kịp. Rồi ươn ra chậu, rồi 15 ngày sau lo cơi ngọn… Và tuy bông nó không ăn phân, tro nhiều hơn rau, nhưng ḿnh là người trồng, cũng phải ăn cơm để sống, chớ hổng lẽ nhịn đói trong 6 tháng trồng bông? Tiền vốn mua các giống bông cũng nặng và phải lựa giống thiệt kỹ, nếu không, lỡ gặp hột ra cây điếc th́ thua là cái chắc.

Thường th́ giữa chầu lai rai của bọn tôi hay có một anh hàng xóm của Tư cứ tự tiện vạch hàng rào bông bụp bước qua nhập cuộc. Có lần anh ta mời cả bọn qua đất của anh. Chiếu nhậu vừa trải dưới một giàn đậu cô-ve th́ anh đă chạy vô bếp làm liền một món mối ‘đặc biệt’. Té ra chỉ là đậu ve non hái ngay trên giàn, rửa sơ rồi xào tóp mỡ. Nhưng không ngờ cái món đơn giản, tầm thường này lại rất ngon miệng.

Thời đó, cả nước c̣n ăn độn cơm với khoai, với bắp, bạn bè nghèo bọn tôi gặp nhau, có bấy nhiêu đó cũng là vui, là hạnh phúc rồi. Người Sài G̣n bắt đầu biết mùi ăn độn, bà Q.V., vốn là chuyên gia về ẩm thực, nguyên hiệu trưởng một trường nữ công - gia chánh nổi tiếng, đă lên ti-vi dạy cho khán giả cách chế biến rau muống thành nhiều món ăn khác nhau mà bà ta cam đoan là đều ngon hay lạ miệng. Lần đó, một anh bạn ở chợ trời thuốc tây vùng Tân Định, luôn gọi “tôn vinh” rau muống là sâm dây, đă than thở: “Trời ạ, sau cái vụ rau-muống-bảy-món này, chắc quí ma-đàm Q. V. sẽ dạy tiếp cho quốc dân, đồng bào về món khoai ḿ, tức là sâm đất đó mấy cha, thành khoai-ḿ-mười-món. Thôi chắc tui ‘đi’ quá! Mấy cha chịu nổi mà ở lại th́ ráng ăn sâm dây với lại sâm đất cho nó bổ khỏe nhé!”.

Ai đó “chịu nổi” hay không ǵ th́ cuộc sống vẫn thản nhiên trôi đi theo ngày tháng. Sau mấy năm liền không có dịp gặp nhau v́ tôi rời Sài G̣n, xuống kiếm sống ở quê vợ là Vũng Tàu, tôi trở lại khu nghĩa trang Vạn Thọ thăm nhà Tư Nhíu th́ thấy lạ hoắc, lạ huơ. Nghe nói bà Vạn Thọ, chủ nghĩa trang đă hiến đất cho nhà nước tự hồi nào và nơi này đă được giải tỏa trắng để qui hoạch thành Làng Hoa G̣ Vấp. Một con đường mới mở, chạy bên cạnh làng hoa th́ cái tên “Lê Văn Thọ” của nó lại chẳng dính líu ǵ tới gia tộc bà Vạn Thọ mà là tên một liệt sĩ nào đó. C̣n cái đường ṃn chạy giữa nghĩa địa ngày trước nay đă được cán nhựa và có tên đàng hoàng là đường Cây Trâm, hai bên đường là cả dăy phố khá sầm uất, nhộn nhịp.

Có điều là, chính trên con đường đóng vai “xương sống” của “làng hoa” này lại khó t́m ra các loài hoa. Chỉ thấy toàn là nhà hàng, quán nhậu, quán karaoké, tiệm bán ga, bán điện thoại di động.v.v… Họa hiếm là hai, ba chỗ bán cây kiễng, hoa chậu hay bày bán các loại tượng đá, tượng xi-măng.

Ngày trước, khi đi trên đường, nh́n qua những hàng tre là thấy ngay những vạt đất trồng rau nằm cạnh những căn nhà lá hay nhà vách ván như nhà Tư Nhíu. Nay tre trúc, nhà lá, nhà gỗ ǵ cũng biến mất mà chỉ có toàn là nhà gạch, nhà lầu hai, ba tầng cùng vĩa hè lát gạch con sâu.

Phải bước ra phía sau căn nhà trệt mới xây của vợ chồng Tư mới thấy mảnh vườn cũ. Cái nhà lá biến mất và đất vườn cũng bị giải tỏa một phần cho con đường nhựa và chỉ c̣n lại khoảng 1000m2 trồng rau. Tư cùng những nhà vườn lân cận vẫn trồng những loại rau truyền thống G̣ Vấp, như mồng tơi, dền, rau thơm, xà lách, cải ngọt, cải ná, cải bẹ.v.v… và một ít xu hào, cải bắp, hành ng̣. Nhưng Tư nói ngay:

- Đất trồng ở vùng này giảm đến 70 – 80%. Số bà con c̣n theo nghề chỉ c̣n khoảng một nửa. Bỏ nghề cũng phải v́ giá đất lên liền liền, đem đất phân lô bán kiếm tiền, chuyển qua nghề khác khỏe hơn.

- Cậu vẫn có trồng hoa Tết?

-Th́ cũng ráng…. Cũng vẫn mấy thứ bông truyền thống thôi, như thược dược, hướng dương, cúc mâm xôi, sống đời.v.v…Mấy năm qua có thêm vạn thọ Pháp, bông lớn. Nhưng bông G̣ Vấp đang không cạnh tranh nổi với bông Cái Bè chở ghe lên Sài G̣n, nhiều và rẻ hơn.

Cỡ 1 – 2 giờ khuya, vợ chồng Tư đă lo nhổ rau, cột bó, để đến 4 giờ sáng chở đi bán. Do số lượng rau nhỏ nhoi không đáng để Tư chở xuống tận chợ hàng bông Bà Chiểu, họp từ giữa đêm về sáng ngay trên hè phố mà chỉ chở ra tới “chợ” rau ngă tư Lê Văn Thọ – Phạm Văn Chiêu, cách nhà chừng 1 cây số. Nhưng phải coi chừng… Cứ khoảng 4 giờ sáng, dân trồng rau trong vùng tụ tập về ngă tư nhỏ hẹp này để buôn bán với đầu nậu cùng người bán lẽ. “Chợ” chỉ họp đến hững sáng là tàn nhưng trong bóng tối chập choạng, xe 2 bánh chở rau thường đậu lấn mặt đường, người mua cứ tỉnh bơ chuyển rau từ xe người bán qua xe ḿnh, mặc kệ cho kẹt xe. Đến cỡ 5 giờ sáng th́ xe cộ nhiều hơn, nào là xe bus, xe hàng, xe chở công nhân… Trúng đoàn xe đám ma th́ càng dễ kẹt xe hơn. Đă từng có một vụ ẩu đă giữa một anh lơ xe bus với một anh chở rau, rồi anh lơ chạy đi ‘méc’ công an phường. Nhưng công an có xuất hiện th́ cũng giống như ai đó khuấy động một băi ruồi đậu. Công an đi rồi th́ ai nấy, người bán cũng như người mua rau, lại tiếp tục trở lại chỗ cũ

Tôi hỏi Tư thấy tương lai của nghề trồng rau vùng này như thế nào. Người đàn ông mà mấy đời gia tộc bên ḿnh cũng như bên vợ đều đă sống bằng cái nghề lam lũ này, rầu rĩ trả lời:

- Đất trồng rau ở đây càng ngày càng teo tóp, nhường chỗ cho nhà cửa mọc lên san sát. Dân kéo về ở càng đông th́ vườn rau ḿnh càng bị bao vây, cô lập. Rồi có ngày rất dễ bị thưa kiện về tội làm ô nhiễm môi trường. Hiện nay, nhà tui đâu c̣n ruồi như hồi trước nữa là do tui rất ít ủ phân rác hay phải mua phân đă hoai rồi cho không c̣n mùi. Nhưng mùi urê, mùi thuốc trừ sâu, mùi ǵ cũng bị hàng xóm ở sát bên vườn la lối. Hiện nay, tụi tui thức khuya thức hôm, bám vô 1000 mét vuông vườn kia để mỗi tháng, trừ hết chi phí phân giống, điện đóm th́ cũng c̣n dư ra được cỡ ba, bốn triệu để đong gạo, đóng tiền học cho mấy đứa nhỏ. Nhưng chắc một hai năm nữa tui phải đổi nghề thôi. Chừng đó cũng có lẽ không c̣n ai giữ đất trồng rau, trồng bông ở vùng này nữa đâu, dù đă có lập làng hoa ǵ đó!

Lâu nay, ngoài hàng bông của G̣ Vấp, cung ứng cho Sài G̣n c̣n có rau, hoa tươi, hoa kiểng của Hốc Môn, B́nh Chánh, Thủ Đức…, hay xa hơn là của Bến Tre, Tiền Giang, Đồng Nai, Lâm Đồng, Hà Nội… Đặc biệt là hoa Đà Lạt muôn màu muôn vẻ đă tràn ngập thị trường với giá hạ hơn trước rất nhiều, lấn át hẳn hoa của các vùng ngoại ô quanh Sài G̣n. Phải nói ít nhiều ǵ đây cũng là một thay đổi tốt đẹp cho cuộc sống mọi người. Nhưng riêng tôi, trong thâm tâm vẫn có một nỗi buồn, nỗi tiếc nhớ man mác v́ chẳng bao lâu nữa sẽ lụi tàn hết những ngôi vườn xanh tươi, yên tĩnh, như mảnh vườn nhỏ bé của Tư Nhíu – bạn tôi, nằm khuất lánh ở một vùng đất hiền ḥa, nguyên là ngoại ô của thành phố Sài G̣n xa xưa.

*Tưởng niệm Hồ Văn Nhíu (1959 – 2009)

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Hỗ Trợ Kỹ Thuật

Hoàng Vân, Julia Nguyễn

Web Database

Nguyễn Hoàng Dũng
Xin vui ḷng liên lạc với  haphuonghoai@gmail.com về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 10/19/17